Thế giới 5000 năm

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Thanh Xuân
Ngày gửi: 15h:30' 30-09-2024
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 0
Thế giới 5000 năm
Tác giả: Chu Hữu Chi
Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin
Thư viện Tinh Tế
Ebook miễn phí: www.SachMoi.Net
THẾ GIỚI CỔ ĐẠI
NỀN VĂN MINH DƯỚI ĐÁY ĐẠI TÂY DƯƠNG
Nền văn minh sớm nhất của loài người bắt đầu từ Lúc nào và nảy sinh ở đâu? 2400
năm trước, nhà triết học lỗi lạc Platôn người Hy Lạp trong những buổi nói chuyện và
trong trước tác của mình đã từng nói, trước ông 9000 năm, cư dân Đại Tây Châu
(Atlantic) đã có một nền văn minh rất cao. Ông còn miêu tả sinh động các kiểu dáng
kiến trúc và phương thức sinh hoạt của cư dân Đại Tây Châu, nói rằng ở đó có nhiều
công trình kiến trúc hùng vĩ, tráng lệ, chung quanh còn trồng nhiều cây cối cành lá
xúm xuê. Nhưng không biết vào một năm nào. Đại Tây Châu này bỗng nhiên trong
một đêm chìm xuống mất hút dưới Đại Tây Dương.
Nếu đúng như lời Platôn nói thì sớm từ 12000 năm trước, loài người đã sáng tạo ra
một nền văn minh. Nhưng rút cục Đại Tây Châu ở chỗ nào, hàng nghìn năm nay vẫn
là một điều bí ẩn chưa sao giải nổi.
Tới những năm 70 của Thế kỷ XX, một số nhà khoa học đã đến gần quần đảo
Transun để nghiên cứu. Từ độ sâu 800 mét dưới biển họ lấy lên được những nham
thạch, qua giám định khoa học thì nơi này 12000 năm trước quả thật là một mảng lục
địa. Dùng kỹ thuật khoa học hiện đại khảo sát thấy đúng như lời miêu tả của Platôn
năm gần đây, các nhà khoa học đi khảo sát dưới đáy Đại Tây Dương đã từng nhiều lần
phát hiện thấy quần thể kiến trúc cổ to lớn, ở đấy có những con đường dài, có những
cây cột đá chạm khắc tinh xảo đẹp đẽ và nhiều văn vật khác. Năm 1979, ở khu vực
biển tam giác Becmut lại có một phát hiện thật đáng kinh ngạc. Qua việc khảo sát tỉ mỉ
của đội điều tra hai nước Mỹ - Pháp, đã chứng minh được rằng dưới đáy vùng biển
này có một tòa Kim tự tháp rất lớn. Thời gian xây dựng còn sớm hơn rất nhiều so với
các Kim tự tháp ở cổ Ai Cập. Qua đo đạc khoa học, Kim tự tháp dưới đáy biển này
mỗi chiều dài 300m, cao 200m, đỉnh tháp cách mặt biển 100m. Tháp có hai khoang
lớn, nước biển chảy qua các khoang với lưu tốc rất nhanh tạo thành những lớp sóng
vọt cao hung dữ trên mặt biển.
Vậy thì cư dân của Đại Tây Châu cổ xưa sớm đã chìm xuống Đại Tây Dương rút cục
là những người như thế nào? Họ đã dựng nên nền văn minh ra sao? Họ còn sáng tạo
ra những kỳ tích gì cho nhân loại? Thật đáng tiếc là hiện nay chưa người nào có thể
đưa ra lời giải đáp xác đáng. Hơn nữa, thời gian đã cách xa hơn 12000 năm, vì vậy vấn
đề hết sức thú vị này, xem ra chỉ có thể để cho các nhà khoa học tiếp tục khảo sát và
khám phá.
Từ loài vượn cổ bước xuống mặt đất sinh sống lại biết chế tác đá làm công cụ lao
động cho tới hiện nay đã có lịch sử ba bốn triệu năm. Trong những năm tháng dài dặc
đó, trong môi trường khó khăn khốn khổ, tổ tiên loài người đã giãi nắng dầm mưa,
vạch lá chặt cành, cải tạo thế giới khách quan, cũng là tự cải tạo chính mình. Con
người có bộ óc phát triển và đôi tay linh hoạt, cũng có tiếng nói phong phú và tư duy
chặt chẽ. Chính đưa vào những cái đó mà trải qua những năm tháng lịch sử lâu dài đã
sáng tạo ra những nền văn minh rực rỡ huy hoàng nhiều hình nhiều vẻ.
Mặc dù bí ẩn về nền văn minh dước đáy Đại Tây Dương hãy còn phải chờ các nhà
khoa học khám phá thêm, nhưng những di tích lịch sử phong phú, hàng loạt hiện vật
đào được từ lòng đất và những ghi chép bằng chữ viết còn lại trên thế giới có thể nói
rõ ràng với chúng ta về cổ Ai Cập ở đôi bờ sông Nin, về Sume và Babilon trong lưu
vực sông Tigrơ và Ơphrát(nay là giải Irắc), về cổ Ấn Độ ở lưu vực sông Hằng và sông
Inđus cùng Trung Quốc bên bờ sông Hoàng Hà và Trường Giang. Đó là những cái nôi
của nền văn minh nhân loại. Năm sáu ngàn năm nay, những nơi đó đã nuôi dưỡng,
bồi đắp trí tuệ và sức sáng tạo cho hàng triệu con người, mở ra ngọn nguồn sâu xa dài
lâu cho khoa học và nghệ thuật, cống hiến xuất sắc cho nền văn minh nhân loại. Rất
nhiều sự việc nảy sinh trong quảng thời gian này đều là những câu chuyện thú vị hấp
dẫn cho mọi người. Bây giờ mời các bạn, chúng ta hãy kể lại những câu chuyện lịch
sử của các nước trên thế giới 5000 năm nay, bắt đầu từ cổ Ai Cập ở đôi bờ sông Nin!
VƯƠNG QUỐC CỔ AI CẬP RA ĐỜI
Ôi sông Nin, tôi ca ngợi Người,
Người từ vùng đất lớn tuôn trào, nuôi sống Ai Cập…
Một ngày nào đó dòng nước của Người khô cạn.
Thì chúng dân cũng ngừng thở.
Đây là bài thơ nổi tiếng của nhân dân Ai Cập cổ đại ca ngợi sông Nin. Sông Nin dài
hơn 6000 km bắt nguồn từ vùng cao nguyên trung bộ châu Phi. Hàng năm vào đầu
tháng Bảy, mưa lớn ở đầu nguồn và thác lũ ào ào đổ xuống dòng sông băng qua
những khe hẹp rồi xuôi chảy từ nam xuống bắc, lòng sông mở rộng dần. Tháng Chín
nước lên to nhất tràn ngập cả hai bờ, trở thành một hồ lớn mênh mông. Tới cuối tháng
Mười, mùa mưa qua đi, nước sông mới xuống thấp chảy theo lòng sông, nhưng để lại
một lớp phù sa lắng đọng lại vô cùng mầu mỡ cho các loại cây trồng.
Ở trung hạ lưu sông Nin có một giải đất hẹp mà dài, rộng từ 3 đến 16 km bắt đầu từ
biên giới phía nam Ai Cập hiện nay chạy thẳng tới vùng phụ cận Thủ đô Ai Cập Cairô
thì dần dần mở rộng ra. Đó chính là Tam giác châu sông Nin nổi tiếng.
Dòng sông lớn nổi tiếng thế giới này đã mang lại nguồn nước phong phú và đất đai
mầu mỡ cũng mang lại cuộc sống và sự phồn vinh cho Ai Cập. Khoảng năm sáu
nghìn năm trước Công nguyên, người cổ Ai Cập đã dần dần định cư ở đây Lúc đầu họ
sống cuộc sống nguyên thủy, dùng công cụ thô sơ để trừ bỏ cỏ rậm và gai góc ở hai
bờ sông, đào mương đắp bờ, trồng trọt các loại cây nông nghiệp trên những mảnh đất
được tưới nước. Cuối cùng đã biến vùng đất khí hậu khô khan này thành kho lương
thực nổi tiếng thời cổ đại.
Cùng với sự phát triển kinh tế, cổ Ai Cập bắt đầu từ xã hội nguyên thủy dần dần bước
sang xã hội nô lệ. Tuy vậy khoảng năm 4000 trước Công nguyên, Ai Cập chưa hình
thành một quốc gia thống nhất. Khi đó Ai Cập có khoảng hơn 40 châu (gọi là ''nôm''),
mỗi châu đều có vị thần tôn thờ của mình, sau này lại có quân đội và lá cờ dùng để
tượng trưng cho bộ lạc, trên thực tế đó đều là những tiểu vương quốc độc lập. Giữa
các châu đã trải qua chiến tranh, thôn tính dài lâu, cuối cùng đã phải chia vùng đồng
bằng sông Nin dài và hẹp thành hai vương quốc độc lập lớn ở Bắc bộ và Nam bộ. Bắc
bộ gọi là Vương quốc Hạ Ai Cập, Quốc vương đội mũ đỏ, lấy Rắn thần làm thần hộ
mệnh, lấy con ong làm quốc huy. Nam bộ gọi là Vương quốc Thượng Ai Cập, Quốc
vương đội mũ trắng lấy chim ưng làm thần hộ mệnh, lấy hoa bách hợp trắng làm quốc
huy.
Thượng, Hạ Ai Cập luôn luôn nổ ra chiến tranh. Vào khoảng trước sau năm 3000
trước Công nguyên, Thượng Ai Cập dần dần cường thịnh, Quốc vương Mênét đã thân
dẫn đại quân đi đánh Hạ Ai Cập.
Quân hai bên đã có trận quyết chiến ở vùng Tam giác châu sông Nin: Mênét đầu đội
mũ trắng, trên mũ trang trí mặt chim ưng thần, tự mình ra trước trận tiền đốc chiến.
Trong tiếng gào thét âm vang, gươm giáo sáng lòa, những lá cờ vẽ hoa bách hợp trắng
và những lá cờ có hình con ong vung lên, quấn vào nhau, quân hai bên xông vào
đánh giáp lá cà không sao phân giải được. Qua ba ngày ba đêm kịch chiến, cuối cùng
quân Hạ Ai Cập bị đánh tan. Quốc vương Hạ Ai Cập đứng trước đám tù binh, tháo
chiếc mũ đỏ rồi quỳ xuống đất, hai tay nâng mũ dâng cho Mênét.
Để kỷ niệm chiến thắng này, Mênét đã gọi tên vùng đất quyết chiến này là “Bạch
Thành” (Thành trắng). Sau này nơi đây trở thành Thủ đô của Vương quốc Cổ Ai Cập
- Memphit (Memphis).
Ngày thứ hai sau lễ nhận đầu hàng, Mênét bày tiệc lớn ở Bạch Thành khoản đãi công
thần, thăng quan phong tước cho người có công. Từ đó Mênét tự xưng là ''Vua của
Thượng Hạ Ai Cập'', có lúc đội mũ trắng, có lúc đội mũ đỏ, có lúc đội hai thứ mũ gộp
lại tượng trưng cho sự thống nhất Thượng Hạ Ai Cập.
Sau khi Ai Cập thống nhất, đã dần dần lập nên bộ máy cai trị chuyên chế. Người cai
trị tối cao cả nước là Quốc vương, được Quốc vương đặt ra các thứ quan lại. Hàng
năm đều cho người đi kiểm tra nhân khẩu, ruộng đất, súc vật và mọi thứ tài sản trong
cả nước để định ra mức tô thuế.
Quốc vương được coi như thần thánh bất khả xâm phạm. Trên các bức chạm đá hoặc
bích họa, Quốc vương đều được vẽ thành một vị thần khổng lồ hoặc vẽ thành hình
dáng rắn thần, chim ưng thần. Sau này, mọi người không còn được gọi tên Quốc
vương mà tôn xưng là Pharaôn (vốn có nghĩa là ''cung điện'' sau chuyển sang ý ''chủ
cung điện'' tương tự như Trung Quốc, Việt Nam xưa tôn xưng vua là ''Bệ hạ'').
''Pharaôn tôn kính, Người được Trời cho thông tuệ sáng suốt thấu hiểu muôn vật, liệu
định công việc như thần. . .''. Các quan to khi triều kiến Quốc vương đều nói những
lời ca tụng đại loại như vậy, lại phải phủ phục trước ngai vua, cúi rạp mình xuống đất
hôn lên mặt đất trước chân Quốc vương, không được tùy ý ngẩn đầu. Bắt đầu từ khi
Mênét thống nhất Ai Cập vào thế kỷ XXX trước Công nguyên, Ai Cập bước vào thời
kỳ tiền Vương quốc, cho đến thế kỷ XI trước Công nguyên lần lượt trải qua các thời
kỳ Cổ Vương quốc, Trung Vương quốc, Tân Vương quốc. Từ đó về sau Ai Cập dần
dần suy yếu, lần lượt bị Libi, Atxua xâm nhập. Giữa thế kỷ VII trước Công nguyên,
giành lại độc lập. Sau đó lại bị đế quốc Ba Tư, Hy Lạp Maxêđônia chinh phục. Năm
30 trước Công nguyên lại bị sáp nhập vào bản đồ đế quốc Rôma.
Cổ Ai Cập là một trong những ngọn nguồn của văn minh thế giới. Nhân dân cổ Ai
Cập đã đạt được những thành tựu to lớn về các mặt chữ viết, lịch pháp, nghệ thuật, tri
thức khoa học v.v. . . đã từng có ảnh hưởng lớn tới Tây bộ châu Á và châu Âu, đã có
cống hiến lớn lao không thể phai mờ đối với lịch sử loài người.
LAI LỊCH KIM TỰ THÁP
Ai Cập thời cổ đại từng lưu truyền một câu chuyện thần thoại xúc động lòng người.
Trước đây rất lâu rồi, có một vị Pharaôn tài giỏi hơn người tên là Ôsirit. Ông dạy dân
trồng trọt làm bánh, nấu rượu, khai mỏ, nên mọi người đều rất kính trọng ông. Nhưng
em trai ông là Setơ lòng đã bất lương âm mưu giết anh trai để cướp ngôi vua. Một hôm
Setơ mời anh đến ăn cơm tối, lại còn mời nhiều người cùng dự. Ăn xong, Setơ cho
mang ra một chiếc rương lớn rất đẹp rồi nói với mọi người:
-Ai có thể nằm gọn trong chiếc rương này thì tặng rương cho người đó!
Ôsirit được mọi người cổ vũ thúc giục làm thử xem sao. Ông liền nằm vào trong
rương, Setơ lập tức đậy nắp rương khóa lại rồi đem ném ông xuống dòng sông Nin.
Sau khi Ôsirit bị hại, vợ ông đi khắp nơi tìm kiếm, cuối cùng đã tìm được thi thể. Việc
này bị Setơ biết được, y liền lúc nửa đêm đến lấy cắp thi thể, chặt ra thành mười bốn
khúc đem vất đi các nơi. Vợ Ôsirit lại đi các nơi tìm được các mảnh thi thể chồng,
đem chôn dưới đất.
Con trai của Ôsirit từ nhỏ đã rất dũng cảm. Lớn lên, chàng đánh bại Setơ trả thù cho
cha. Chàng cho đào các mảnh thi thể của cha chôn ở khắp nơi đem về chắp lại thành
xác khô ''mômi'' (còn gọi là xác ướp). Sau này được thần linh giúp đỡ, cha chàng sống
lại. Nhưng không phải sống lại chốn nhân gian mà sống lại nơi âm phủ, làm Pharaôn
ở cõi âm, chuyên xét xử người chết, bảo vệ Pharaôn ở dương gian.
Thần thoại này đã sớm lưu truyền trong dân gian. Sau này các Pharaôn Ai Cập nghe
kể liền lợi dụng câu chuyện để lừa dối nhân dân, nói rằng pharaôn có thần giúp đỡ, vì
thế sống là người thống trị, chết vẫn là người thống trị. Ai chống lại Pharaôn, người đó
chẳng những lúc sống bị trừng phạt mà khi chết rồi cũng phải chịu khổ ải.
Từ đó mỗi một Pharaôn Ai Cập sau khi chết đều muốn diễn lại lần nữa câu chuyện
thần thoại về Ôsirit. Đầu tiên là cử hành lễ tìm thi thể. Bước thứ hai là làm lễ rửa thân
tức giải phẫu thi thể, lấy phần nội tạng và óc bỏ ra ngoài, biến thi thể thành xác ướp
''mômi''. Cách làm là ướp thi thể trong một dung dịch chống thối rửa, rút hết mỡ, bóc
hết da. 70 ngày sau đem thi thể phơi khô, nhét hương liệu vào khoang bụng, quét một
lớp dầu ở ngoài để tránh cho thi thể tiếp xúc với không khí, rồi dùng vải bó chặt lấy
thi thể. Như vậy là xác ướp ''mômi'' bất hủ đã làm xong. Bước thứ ba là tụng niệm cầu
đảo, mở mắt, thông tai, thông mũi, mở mồm cho ''mômi'', đưa thức ăn vào trong
mồm ''mômi''. Truyền rằng làm như vậy thì sẽ hít thở, nói chuyện, ăn uống như người
đang sống. Cuối cùng là nghi lễ an táng, đặt ''mômi'' vào trong quan tài đá, đưa đến
phần mộ - ''nơi ở vĩnh cửu'' của Pharaôn.
Ở Ai Cập, hình thức mộ táng sớm nhất là đào huyệt ở dưới đất, bên trên đắp thành gò
đất bằng cát. Về sau huyệt mộ đào càng ngày càng sâu thành một gian phòng dưới
lòng đất, chung quanh gò đống cát bên trên xây thành một bức tường đá Kiểu phần
mộ như vậy gọi là ''mastaba'' (có nghĩa là chiếc ghế đá).
Tới thế kỷ XXVII trước Công nguyên, Pharaôn Vương triều thứ III Ai Cập là Jexe cho
rằng loại ''mastaba'' này không thể làm nơi ở vĩnh cửu cho Pharaôn. Thế là ông tìm
kiến trúc sư xây dựng một tòa ''mastaba'' cực lớn bằng đá xẻ. Nhưng Pharaôn vẫn thấy
nó chưa thật hùng vĩ, liền cho xây chồng lên năm tầng ''mastaba'' mỗi tầng nhỏ dân đi,
làm cho độ cao của ''mastaba'' đạt tới 61m. Bên dưới có một đường hầm kiên cố rất
sâu có thể đi thông tới các hành lang và các gian phòng dưới lòng đất. Chung quanh
còn xây một lớp tường bao mô phỏng theo hoàng thành, trong tường xây dựng đền đài
dùng cho việc cúng tế. Đây chính là lăng mộ hình tháp đầu tiên của Ai Cập, sau được
gọi là ''pyramiđơ'', theo tiếng cổ Ai Cập có nghĩa là cao vút; người Trung Quốc thấy
hình dáng của tháp giống như chữ ''kim'' trong chữ Hán nên gọi là Kim tự tháp. Do tòa
Kim tự tháp này có từng bậc từng bậc từ dưới lên cho nên mọi người gọi là ''Kim tự
tháp hình bậc thang''.
Sau này, các Pharaôn như bị quỷ ám, đều muốn xây Kim tự tháp cho riêng mình, càng
ngày càng xây dựng hùng vĩ hơn. Pharaôn Vương triều thứ IV là Khêôp sau khi lên
ngôi, quyết tâm xây dựng một Kim tự tháp lớn nhất cho mình. Ông cưỡng bức mọi
người dân Ai Cập phải làm lao dịch phục vụ cho công trình này, cứ 10 vạn người lập
thành một kíp, mỗi kíp làm việc trong ba tháng luân phiên nhau thay đổi.
Bắt đầu xây dựng công trình, hàng ngàn hàng vạn người được đưa đến vùng núi để
vận chuyển đá. Theo tính toán, mỗi tảng đá nặng khoảng 2 tấn rưỡi, tổng cộng cần tới
230 vạn tảng đá. Đá nhiều như vậy nếu ngày nay dùng xe lửa để chuyên chở thì phải
cần tới 60 vạn toa xe. Nhưng ở thời đó không có phương tiện vận chuyển cơ giới, vậy
phải làm thế nào? Truyền rằng, người dân Ai Cập cần cù thông minh đã nghĩ ra
phương pháp rất khoa học: họ dùng các con lăn bằng gỗ để chuyển đá, dùng sức
người hay súc vật kèo đi. Nhưng xe con lăn gỗ chở đá nặng không kéo qua được nơi
mặt đất gồ ghề. Thế là lại phải làm một con đường trải đá để chuyên chở đá. Chỉ riêng
việc làm con đường này đã tốn mất 10 năm trời. Cùng thời gian đó, một đoàn người
khác hối hả trên công trường đào những đường hầm dưới mặt đất và huyệt mộ. Trong
những đường hầm nóng nực và ngột ngạt, các dân công dùng những cuốc xẻng bằng
đồng đào bới đất đá mở đường. Công việc này lại tốn mất đúng 10 năm trời.
Bắt đầu việc lắp đặt Kim tự tháp. Lúc đó không có cần trục, thậm chí một thanh sắt
cũng không có, làm sao đưa được những tảng đá nặng như vậy xếp chồng lên nhau?
Những người dân công đã xếp gọn tầng thứ nhất trên mặt đất, sau đó họ đắp đất cao
ngang tầng thứ nhất, có dốc nghiêng, theo chiều dốc đó mà kéo đá lên tầng hai. Cứ
như vậy mà lắp đặt các tầng cao hơn. Kim tự tháp cao đến đâu thì đất đắp cao đến đó.
Tháp làm xong đống đất đó biến thành một trái núi lớn, mọi người lại chuyển đất đem
đi nơi khác để Kim tự tháp lộ ra. Công trình này xây lắp vô cùng gian khổ, luôn luôn
có tới 10 vạn người lao động dưới roi vọt của bọn đốc công và trong ánh nắng mặt
trời thiêu đốt. Lại mất 10 năm trời nữa. Toàn bộ công trình đã tốn thời gian tới 30
năm!
Kim tự tháp Khêôp là tòa tháp to lớn nhất trong các Kim tự tháp ở Ai Cập, Kim tự
tháp này nguyên cao đến 146,59 mét, trải qua mấy nghìn năm mưa gió bào mòn, đỉnh
tháp đã bị bóc thấp xuống gần 10 mét, đây là công trình xây dựng cao nhất thế giới
cho tới trước năm 1888, khi Pari xây dựng tháp sắt Epfen. Mặt đáy của Kim tự tháp
này hình vuông, mỗi chiều dài 230 mét, đi vòng quanh Kim tự tháp mất một quãng
đường dài gần 1 km. Giữa các lớp đá ở thân tháp không dùng bất cứ chất liệu kết dính
nào kiểu như xi măng hiện nay mà chỉ là tảng đá này xếp chồng khít lên tảng đá kia.
Các tảng đá được mài nhẵn bóng, cho tới nay đã trải qua mấy nghìn năm, người ta vẫn
không thể nhét được một lưỡi dao mỏng vào giữa khe hai tảng đá.
Trong Kim tự tháp có ba nhà mồ. Tiến vào cửa tại mặt Bắc ở độ cao 13 mét là một
đường hầm cao chưa tới đầu người. Men đường hầm đi xuống phía dưới, đi qua
khoảng 100 mét thì tới một gian nhà đá hình chữ nhật- Do Khêốp không vừa lòng với
gian nhà mồ này nên từ chỗ giữa đốc đi xuống lại mở một đường hầm khác đi lên phía
trên thông tới gian nhà mồ của Hoàng hậu. Ở đoạn đầu đường dốc đi lên lại mở ra
một hành lang lớn. Đi theo hành lang lớn tới một gian nhà mồ nữa, đây chính là nơi
đặt quan tài đá của Khêốp, mọi người gọi là ''mộ thất của Pharaôn''.
Sau khi Khêốp qua đời không lâu, tại một địa điểm không xa với Kim tự tháp lớn
Khêốp, người ta lại dựng lên một tòa Kim tự tháp khác. Đó là Kim tự tháp của vua
Kêphơren, con của Khêốp, cạnh đáy dài 215m, chiều cao 143 mét chỉ thấp hơn Kim tự
tháp Khêốp 3 mét, nhưng có công trình kiến trúc phù trợ hoàn chỉnh, tráng lệ. Bên
cạnh tháp, xây dựng hai đền thần. Phía tây bắc đền thần có một bức tượng khổng lồ,
đầu người mình sư tử, gọi là tượng Xphinxơ hay Nhân Sư Tượng cao 20 mét dài 57
mét, mỗi cái tai ở đầu tượng dài tới 2 mét. Tượng này muốn tạo hình Pharaôn
Khêphơren và muốn nói lên rằng nhà vua có sức mạnh của sư tử và trí tuệ của loài
người. Ngoài móng vuốt sư tử xếp bằng đá xẻ ra còn toàn bộ tượng Nhân Sư là một
khối đá khổng lồ nguyên vẹn do các nhà điêu khắc tạc thành. Tới nay pho tượng đã
có hơn 4500 năm lịch sử.
Xây dựng xong hai Kim tự tháp lớn này, Ai Cập đã làm kiệt quệ của cải và sức dân. Về
sau này, các Pharaôn của Vương triều V và VI đều có xây dựng Kim tự tháp nhưng
quy mô và chất lượng đều nhỏ bé hơn nhiều không thể sánh được với các Kim tự tháp
nói trên. Sau Vương triều VI, thế kỷ XXIII trước Công nguyên, Cổ Vương quốc bắt
đầu suy yếu, quyền lực của các Pharaôn xuống thấp, đất nước Ai Cập bị chia cắt thành
nhiều vùng độc lập, việc xây dựng Kim tự tháp cũng suy tàn. Từ phát triển đến suy
tàn, thời gian kéo dài trên 1000 năm, tổng cộng xây dựng được hơn 70 Kim tự tháp
phân bố tại vùng Gidet ở hai bờ hạ lưu sông Nin và ở vùng đất rộng lớn phía Nam.
Sau này do nhân dân Ai Cập chống đối, thêm vào đó có những kẻ đào mộ trộm,
thường đem các xác ướp của Pharaôn trong Kim tự tháp đưa ra ngoài, vì vậy các
Pharaôn không còn xây dựng Kim tự tháp nữa mà đào đục trong núi sâu làm thành
các lăng mộ bí mật.
Những toà Kim tự tháp hùng vĩ đến nay vẫn đứng sừng sững giữa những lớp cồn cát
nhấp nhô gần ngoại ô Cairô. Nó đã chứng kiến lịch sử lâu dài của cổ Ai Cập, cũng là
kết tinh sức lao động và trí tuệ của ngàn vạn nô lệ Ai Cập thời cổ đại.
NÉT VẼ KỲ DIỆU
2000 năm trước, một tốp người Rôma đến Ai Cập. Khi họ đến tham quan đền đài và
cung điện cổ xưa bỗng nhiên phát hiện thấy trên nhiều bức tường và trên rất nhiều
trang giấy papyrút (chế tạo từ một loại cây sậy) có không ít những nét vẽ kỳ lạ. Những
nét vẽ này hình như đều có liên quan đến lịch sử Ai Cập, nhưng người Rôma chẳng có
hứng thú gì với những thứ đó nên cũng chẳng tìm hiểu nguồn gốc làm gì.
Từ năm 525 trước Công nguyên, Ai Cập bị người Ba Tư chinh phục, hoàn toàn mất
quyền tự chủ, trở thành một tỉnh của đế quốc Ba Tư. Bắt đầu từ lúc đó phải dùng chữ
Ba Tư để ghi chép lịch sử: Còn những nét vẽ ghi lại lịch sử Cổ Ai Cập kể từ sau khi vị
thầy tu cuối cùng biết được cách tạo ra những hình vẽ này qua đời thì không còn ai có
thể giải thích được bí ẩn này.
Năm 1799, Napôlêông từ nước Pháp thống lĩnh quân đội viễn chinh đến Đông bộ
Châu Phi, tiến đánh Ai Cập. Trong lần viễn chinh này của Napôlêông, tình cờ đã
khám phá ra bí ẩn về những nét vẽ kỳ lạ này.
Một hôm, có một sĩ quan Pháp trẻ tuổi đi tuần tra ở thị trấn Rôdét gần cửa biển sông
Nin. Thời gian dài dặc, ông thấy buồn chán bèn đi thăm những di chỉ ở đây. Tình cờ
ông tìm thấy một tấm bia đá kỳ lạ. Nhìn kỹ, tấm bia đá này làm bằng đá huyền vũ đen
giống như ở nhiều di chỉ khác tại Ai Cập nhưng trên mặt lại khắc đầy nhiều loại hình
vẽ. Điều đáng chú ý là còn khắc ba loại chữ viết, trong đó có một loại là chữ Hy Lạp.
Khi đó chữ Hy Lạp có nhiều người biết. Ông nghĩ: chỉ cần đối chiếu kiểu chữ hình vẽ
Ai Cập với chữ Hy Lạp, nhất định sẽ dễ dàng hiểu được ý nghĩa của nó. Thế là ông
vui sướng mang tấm bia trở về.
Nhưng viên sĩ quan trẻ tuổi này đã hỏi nhiều người, vẫn không ai hiểu được ý nghĩa
của những hình vẽ nhỏ trên bia. Lại qua mấy chục năm, tới năm 1822 mới có một học
giả người Pháp là Sămpôliông vén được tấm màn bí mật này. Vị học giả này đã bỏ ra
20 năm trời để hiểu rõ được ý nghĩa của 14 hình vẽ nhỏ trên đó. Ít lâu sau, ông qua
đời vì làm việc quá sức, nhưng những nguyên tắc chủ yếu của chữ tượng hình Ai Cập
đã được làm sáng tỏ. Sau này lại được người khác nghiên cứu thêm, cuối cùng đã hiểu
rõ những hình vẽ kỳ diệu trên tấm bia đá đó là lời ca tụng chiến công của Quốc vương
do viên tư tế Ai Cập viết và khắc vào năm 195 trước Công nguyên. Ba loại chữ trên
đó, ngoài chữ Hy Lạp ra còn hai loại chữ kia đều là chữ Ai Cập, một loại là kiểu chữ
thảo một loại là kiểu chữ tượng hình. Từ khi khám phá được bí mật của những hình
vẽ này cũng có nghĩa là mở toang được cánh cửa lớn vào kho tàng quý giá của lịch sử
Cổ Ai Cập, giúp chúng ta biết nhiều thêm về nền văn minh Cổ Ai Cập năm sáu ngàn
năm trước đây.
Loại chữ tượng hình này xuất hiện vào khoảng năm 4000 trước Công nguyên. Nó
cũng giống như chữ Sume, chữ Cổ Ấn Độ và chữ Giáp cốt của Trung Quốc, đều nẩy
sinh từ những hình vẽ và hoa văn đơn giản nhất trong xã hội nguyên thủy vì vậy gọi
là chữ tượng hình. Thầy tư tế hay người chép sử muốn viết một từ nào đó thì dùng
hình vẽ nguyên dạng để thể hiện. Muốn viết thành một câu, biểu đạt một ý hoàn
chỉnh thì kết hợp những phù hiệu hình vẽ cá biệt lại thành chuỗi hình vẽ phức tạp để
thể hiện. Ví như, hơn 3000 năm trước Công nguyên, toàn Ai Cập thống nhất, thành
lập Vương triều I Cổ Ai Cập với ông vua đầu tiên là Mênét. Trên một phiến đá kỷ
niệm chiến thắng của Mênét có khắc hình ông dùng quyền trượng đánh một tù binh
đang quỳ. Phía trên người tù binh là một con chim ưng, một chân nó quắp sợi dây
thừng xuyên qua mũi người tù, một chân đạp trên lùm cây sáu gốc. Lùm cây sáu gốc
như mọc lên từ một hình chữ nhật do thân hình các tù binh tạo thành. Bức họa đồ này
nói lên rằng Quốc vương đã bắt được 6000 tù binh.
Dùng hệ thống chữ viết theo hình vẽ phức tạp như thế này đương nhiên là không
thuận tiện. Cùng với sự phát triển của xã hội và ngôn ngữ phức tạp hóa, đã nảy sinh
nhiều khái niệm trừu tượng, nhiều danh từ chuyên môn và hình thức ngữ pháp. Nếu
như vẫn dùng những hình vẽ đơn giản để biểu đạt thì gặp khó khăn rất lớn. Thế là
dần dần xuất hiện những phù hiệu biểu thị âm tiết, lại phát minh ra 24 chữ cái phụ âm,
những từ tổ do các loại phù hiệu tạo thành cũng đã có hơn 600. Đây chưa phải là chữ
ghép vần nhưng là một bước tiến rất lớn so với những hình vẽ đơn thuần.
Những thứ chữ này viết trên vật liệu gì? Chúng ta biết rằng ở hai bờ sông Nin cỏ cây
rậm rạp, có một loại cây gần giống cây sậy gọi là papyrut, thân dài mà rộng, người Ai
Cập cắt về bóc ra thành lớp, dát mỏng phơi khô làm thành tờ giấy gọi là giấy papyrut
(giấy cỏ. Nhiều tờ giấy papyrut dán lại với nhau thành một tờ dài, cuộn lại thành cuộn
giấy. Người Ai Cập viết chữ trên loại giấy này rồi cuộn thành nhiều cuộn. Mực làm
bằng lá cây trộn với muội tro than, còn bút chế ra từ những ống sậy mảnh và nhỏ.
Người Cổ Ai Cập đã dùng những công cụ như vậy để ghi chép, lưu lại cho đời sau
một di sản văn hóa vô cùng phong phú và độc đáo.
CUỘC KHỞI NGHĨA SỚM NHẤT
Trong hai viện bảo tàng nổi tiếng ở Châu Âu có lưu giữ hai tập tư liệu thành
văn viết trên cuộn giấy papyrut từ hơn 3000 năm trước Công nguyên. Hai tập tư liệu
này đã bị rách không còn toàn vẹn, nhưng ghi chép được một cuộc khởi nghĩa nô lệ
quy mô lớn sớm nhất trên thế giới.
Sự kiện này xảy ra ở Ai Cập vào khoảng năm 1750 trước Công nguyên.
Ta hãy xem một đoạn ghi chép dưới đây:
“… Sự việc không bao giờ xảy ra cuối cùng đã xảy ra. Quốc vương đã bị đám người
nghèo khổ đuổi đi rồi.
Những kẻ bạo động chỉ trong một thời gian ngắn đã chiếm được Kinh thành. Lúc này
đã xảy ra chuyện như thế này. . . Cổng lớn, hàng cột trụ, nóc nhà trong cung điện của
Quốc vương đều bị thiêu cháy thành than, chỉ còn sót lại vài bức tường nham nhở ở
hoàng cung.
Vùng tam giác châu khóc than vì kho lương thực của Quốc vương đã thành tài sản của
mọi người.
Các quan ở trong nước đều đã bỏ chạy. . . Các quan lại ở cung đình cũng bị đuổi đi
theo nhà vua.
Ngôi nhà tòa án cao to đã thành nơi mọi người tùy ý ra vào, những kẻ nghèo khổ
cũng đi vào đi ra nơi cung điện uy nghi.
Ôi, nơi tòa nhà xử án đẹp đẽ kia, những bản pháp lệnh đã bị vứt bỏ ra ngoài, mọi
người bước đi trên những cuộn giây papyrút ở ngã tư đường. Các quan tòa bị đuổi đi
khắp nơi trong nước.
Họ cướp đi những tài sản của những người tôn quý đem giao cho người nghèo. Người
có của chịu tổn thất còn người nghèo thì rất bằng lòng.
Họ chế ra những tên đồng, dùng máu để đổi lấy bánh mì.
Mọi người quay cuồng như đi trên chiếc bàn xoay làm đồ gốm. . .''
Chẳng cần giải thích ta cũng rõ đây chính là ghi chép về một cuộc khởi nghĩa lớn trời
long đất lở.
Từ khoảng năm 2400 trước Công nguyên, Cổ Vương quốc Ai Cập tan rã, trải qua hơn
300 năm đến trước năm 2000 trước Công nguyên, thành lập ra Trung Vương quốc Ai
Cập. Trung Vương quốc lấy thành Tebơ làm kinh đô, lập ra một nhà nước trung ương
tập quyền lớn mạnh. Của cải của Pharaôn, quý tộc và các chủ nô tăng nhanh, còn
những nô lệ bị áp bức và những nông dân tự canh tác trên mảnh ruộng đất của mình
thì ngày một khốn khổ bần cùng hơn. Họ không còn chịu đựng được nữa, thế là một
cuộc khởi nghĩa trên quy mô cả nước cuối cùng đã bùng nổ.
Cuộc khởi nghĩa nô lệ có nông dân tham gia đã giáng một đòn mạnh mẽ vào giới quý
tộc chủ nô. Do còn thiếu những tư liệu lịch sử nên tới nay vẫn còn chưa rõ toàn bộ
quá trình cuộc khởi nghĩa lớn này, thậm chí ngay tên tuổi người tổ chức khởi nghĩa
cũng không biết. Nhưng qua những ghi chép trên hai cuộn giấy papyrút này cũng đủ
để thấy được uy lực của cuộc khởi nghĩa này.
Cuộc khởi nghĩa này kéo dài 40 năm. Lúc đầu chỉ là những cuộc bạo động lẻ tẻ, phân
tán, sau dần hợp lại thành cuộc khởi nghĩa lớn mang tính toàn quốc. Qua ghi chép
trên cuộn giấy papyrút còn có thể thấy quân khởi nghĩa chỉ đánh vào bọn áp bức về
mặt chính trị mà chưa tổ chức ra chính quyền mang tính toàn quốc; về mặt kinh tế đã
tước đoạt của cải của bọn bóc lột nhưng chưa coi trọng kịp thời việc phát triển kinh tế
của mình thậm chí còn làm cho sản xuất bị ảnh hưởng khá lớn. Tư liệu chữ viết trên
cuộn giấy papyrút ghi:
''Sông ngòi khô cạn, mọi người có thể lội qua sông. Những bãi đất nổi trên sông còn
nhiều hơn nước dưới lòng sông.
Hai bên đường, các loại cây trồng đều khô héo. Mọi người không có quần áo, không
có dầu mỡ càng chẳng thể có sữa uống. . .''
Đã lật đổ được tầng lớp thống trị phản động mà không chú ý xây dựng cuộc sống mới
cho mình, thắng lợi của cuộc khởi nghĩa tất không thể duy trì được lâu dài Pharaôn
thời Trung Vương quốc cuối cùng đã lại tổ chức được chính quyền của họ, nông dân
và nô lệ lại chịu áp bức bóc lột như cũ.
Sau cuộc khởi nghĩa này không lâu, người Hichxốt ở châu Á đã xâm nhập Ai Cập Họ
dùng chiến thuật xe ngựa bao vây, những cỗ xe gió lao lên như tia chớp đột nhập vào
đội ngũ quân Ai Cập, quân Đội Ai Cập chỉ còn biết nhìn hướng gió mà chạy. Khi đó
người Ai Cập còn chưa biết sử dụng ngựa chiến, chỉ biết dùng bộ binh để đánh trận
mà bộ binh thì không có cách nào ngăn chặn được kỵ binh và chiến xa.
Người Hichxốt đã thống trị Ai Cập khoảng 150 năm. Năm 1580 trước Công nguyên,
người cầm quyền mới ở thành Tebơ là Amôxit đã dấy quân đánh lại người Hichxôt,
đuổi họ ra khỏi Ai Cập, lập ra Tân Vương quốc Ai Cập. Từ đó trở đi, người Ai Cập đã
học được cách nuôi ngựa và sử dụng kỵ binh cùng chiến xa.
BẢN HÒA ƯỚC TRÊN TẤM BẢNG BẰNG BẠC
Năm 1296 trước Công nguyên, trong vương cung của Pharaôn Ai Cập có một đoàn sứ
thần cửa nước Hátti đến thăm. Họ mang đến một bảng chữ làm bằng bạc, bên trên
khắc 18 điều khoản về chấm dứt chiến tranh và ký kết hòa ước giữa hai bên: ''Thủ lĩnh
người Hátti vĩ đại mà dũng cảm Hathôsin'' và ''Người thống trị Ai Cập vĩ đại mà dũng
cảm Ramset'' tuyên thệ cùng tin cậy lẫn nhau, hai bên không bao giờ giao chiến với
nhau. Khi một nước phải chiến đấu với nước khác thì phải chi viện cho nhau…
Hátti ở Tiểu Á (nay là Thổ Nhĩ Kỳ), Ai Cập ở Bắc Phi, hai nước cách nhau hàng ngàn
dặm, làm sao lại xảy ra chiến tranh? Số là, người Hátti sau khi hình thành quốc gia
vào năm 2000 trước Công nguyên đã không ngừng bành trướng ra ngoài. Năm 1600
trước Công nguyên, người Hátti đã đánh chiếm Syria và Palestin. Sau đó 5 năm lại
đánh chiếm thành Babilon, thủ đô của đế quốc Babilon (nay ở vùng phụ cận Bátđa,
Irắc) đã cướp phá sạch thành phố phồn vinh nhất thế giới lúc đó. Để tranh giành
quyền bá chủ ở Trung Đông, người Hátti đã tiến đánh Ai Cập. Sau này Tân Vương
quốc Ai Cập dần dần cường thịnh, cuối cùng đã phát động cuộc phản công chống
người Hátti.
Hãy trở lại với những sự kiện trước khi ký hòa ước.
Một ngày vào năm 1312 trước Công nguyên, trong Vương cung Hátti đang có một
cuộc họp khẩn cấp.
- Hãy đọc ngay bản tin tình báo khẩn này cho các vị đại thần nghe - Quốc vương
Môvata ra lệnh gấp cho viên thư ký.
- Xin vâng! Viên thư ký cúi rạp người vâng lệnh rồi bê bảng đất sét lên đọc to
Pharaôn Ai Cập Ramset II thân thống lĩnh đại quân tấn công chúng ta!
Hathôsin, em trai của Quốc vương kêu to:
Thế nào? Quân Ai Cập dám đánh đến đây sao?
Các Pharaôn Ai Cập to gan lớn mật quá! Một vị tướng tức giận nói.
- Quân đội Hátti chúng ta là vô địch, chúng ta nhất định phải chiến thắng người Ai
Cập! Một vị vương tử đứng lên, hoa chân múa tay gào lên.
- Ai có diệu kế đánh địch? Quốc vương Hátti vội vã hỏi.
- Thần có một diệu kế. . . Một vị tướng ưỡn ngực nói ra mưu kế của mình.
Dựa vào kiến nghị của vị tướng này, quân đội Hátti định ra phương án tác chiến.
Ngoài mặt trận, quân Ai Cập chia thành bốn thê đội tiến lên. Phalaôn thân thống lĩnh
đội quân tiên phong đã tiến gần tới thành Cađich, điểm nút giao thông của Syria đã bị
quân Hátt...
Sách giáo viên hoạt động trải...
Ngày gửi: 2024-10-01 14:22:01
Sách giáo viên giáo dục thể c...
Ngày gửi: 2024-10-01 14:21:16
Sách giáo viên giáo dục công ...
Ngày gửi: 2024-10-01 14:20:41
Sách giáo viên công nghệ 7 KNTT
Ngày gửi: 2024-10-01 14:20:11
Sách giáo viên âm nhạc 7 KNTT
Ngày gửi: 2024-10-01 14:19:41
Sách giáo viên tin học 7 KNTT
Ngày gửi: 2024-10-01 14:19:09
Sách giáo viên toán 6 KNTT
Ngày gửi: 2024-10-01 14:18:13
Sách giáo viên tiếng anh 6 KNTT
Ngày gửi: 2024-10-01 14:17:35
Sách giáo viên ngữ văn 6 tập ...
Ngày gửi: 2024-10-01 14:17:03
Sách giáo viên ngữ văn 6 tập ...
Ngày gửi: 2024-10-01 14:16:22
Sách giáo viên mĩ thuật 6 KNTT
Ngày gửi: 2024-10-01 14:15:19
Sách giáo viên lịch sử và địa...
Ngày gửi: 2024-10-01 14:14:27
Sách giáo viên khoa học tự nh...
Ngày gửi: 2024-10-01 14:13:28
Sách giáo viên hoạt động trải...
Ngày gửi: 2024-10-01 14:12:38
Sách giáo viên giáo dục thể c...
Ngày gửi: 2024-10-01 14:11:51
Sách giáo viên giáo dục công ...
Ngày gửi: 2024-10-01 14:11:17
Sách giáo viên công nghệ 6 KNTT
Ngày gửi: 2024-10-01 14:10:35
Sách giáo viên âm nhạc 6 KNTT
Ngày gửi: 2024-10-01 14:08:29
Sách giáo viên tin học 6 KNTT
Ngày gửi: 2024-10-01 14:07:46
sach-giao-vien-sgv-giao-duc-t...
Ngày gửi: 2024-05-15 21:57:00
SGV Am Nhac 6 (1) CD
Ngày gửi: 2024-05-15 11:47:27
SGV Ngu Van 6 Tap 2 (1) CD
Ngày gửi: 2024-05-15 11:47:16
SGV Ngu van 7 Tap 2 (1) CD
Ngày gửi: 2024-05-15 11:46:52
SGV TIENG ANH 6 (1) CD
Ngày gửi: 2024-05-15 11:46:34
SGV Tin hoc 7 (1) CD
Ngày gửi: 2024-05-15 11:46:20
SGV TOAN 6 (1) CD
Ngày gửi: 2024-05-15 11:45:40
SGV TIN HOC 6 (1) CD
Ngày gửi: 2024-05-15 11:45:30
SGV Toan 7 (1) CD
Ngày gửi: 2024-05-15 11:44:59
SGV Toan 7 CD
Ngày gửi: 2024-05-15 11:44:38
SÁCH GV HĐTN 4 KNTTCS
Ngày gửi: 2024-05-15 11:43:55
SÁCH GV TOÁN 4 KNTTCS
Ngày gửi: 2024-05-15 11:43:45
SGV AM NHAC 2 (1) CTST
Ngày gửi: 2024-05-15 11:43:33
SGV DAO DUC 2 (1) CTST
Ngày gửi: 2024-05-15 11:43:21
SGV GDTC 1
Ngày gửi: 2024-05-15 11:43:06
SGV GDTC 2 (1) CTST
Ngày gửi: 2024-05-15 11:42:53
SGV HDTN 2 CTST
Ngày gửi: 2024-05-15 11:42:35
SGV MI THUAT 2 (1) CTST
Ngày gửi: 2024-05-15 11:42:19
SGV TIENG VIET 1 TAP 1 CTST
Ngày gửi: 2024-05-15 11:41:59
SGV TIENG VIET 2 TAP 1 (1) CTST
Ngày gửi: 2024-05-15 11:41:44
SGV TIENG VIET 3 TAP 2
Ngày gửi: 2024-05-15 11:41:26
SGV TIN HỌC 4 KNTTCS
Ngày gửi: 2024-05-15 11:41:14
SGV TNXH 1 (1) CTST
Ngày gửi: 2024-05-15 11:41:00
SGV TOAN 1 (1) CTST
Ngày gửi: 2024-05-15 11:40:42
SGV TOAN 2 (1) CTST
Ngày gửi: 2024-05-15 11:40:24
SGV Am nhac 2
Ngày gửi: 2024-05-15 11:39:40
4 KNTTCS
Ngày gửi: 2024-05-15 11:39:26
SGV CÔNG NGHỆ 4 KNTT
Ngày gửi: 2024-05-15 11:39:08
SGV Dao duc 1
Ngày gửi: 2024-05-15 11:38:56
SGV Dao duc 2
Ngày gửi: 2024-05-15 11:38:36
SGV DAO DUC 3
Ngày gửi: 2024-05-15 11:38:24
SGV ĐẠO ĐỨC 4 KNTTCS
Ngày gửi: 2024-05-15 11:38:10
SGV GDTC 2
Ngày gửi: 2024-05-15 11:37:59
SGV GDTC 3
Ngày gửi: 2024-05-15 11:37:40
SGV HDTN 1
Ngày gửi: 2024-05-15 11:37:27
SGV HDTN 3 (1)
Ngày gửi: 2024-05-15 11:37:16
SGV Hoat dong trai nghiem 2
Ngày gửi: 2024-05-15 11:37:02
SGV KHOA HỌC 4 KNTTCS (1)
Ngày gửi: 2024-05-15 11:36:49
SGV Mi thuat 1
Ngày gửi: 2024-05-15 11:36:37
SGV MÔN MĨ THUẬT 4 KNTTCS
Ngày gửi: 2024-05-15 11:36:24
SGV TOAN 3 (1) CTST
Ngày gửi: 2024-05-15 11:36:11
SGV Am nhac 1
Ngày gửi: 2024-05-15 11:35:53
SGV Am nhac 2
Ngày gửi: 2024-05-15 11:35:23
SGV ÂM NHẠC 4 KNTTCS
Ngày gửi: 2024-05-15 11:35:07
SGV CONG NGHE 3
Ngày gửi: 2024-05-15 11:34:53
SGV CÔNG NGHỆ 4 KNTT
Ngày gửi: 2024-05-15 11:34:36
SGV Dao duc 1
Ngày gửi: 2024-05-15 11:34:17
SGV Ngu Van 6 Tap 2 (1) CD
Ngày gửi: 2024-05-15 10:08:26
SGV Toan 7 CTST
Ngày gửi: 2024-05-15 10:08:08
SGV Toan 6 CTST
Ngày gửi: 2024-05-15 10:07:38
SGV Ngu van 6 Tap 1 CTST
Ngày gửi: 2024-05-15 10:00:19
SGV Ngu van 7 tap 1 CTST
Ngày gửi: 2024-05-15 10:00:07
SGV AM NHAC 6KNTT
Ngày gửi: 2024-05-15 09:59:22
SGV Am nhac 7 KNTT
Ngày gửi: 2024-05-15 09:59:10
SGV CONG NGHE 6 KNTT
Ngày gửi: 2024-05-15 09:58:58
SGV Cong nghe 7 KNTT
Ngày gửi: 2024-05-15 09:58:28
SGV GDCD 6 KNTT
Ngày gửi: 2024-05-15 09:57:44
SGV GDCD 7 KNTT
Ngày gửi: 2024-05-15 09:57:22
SGV GDTC 6 KNTT
Ngày gửi: 2024-05-15 09:57:01
SGV GDTC 7 KNTT
Ngày gửi: 2024-05-15 09:56:48
SGV HDTNHN 6 KNTT
Ngày gửi: 2024-05-15 09:56:38
SGV NGU VAN 6 TAP 1 KNTT
Ngày gửi: 2024-05-15 09:56:28
SGV NGU VAN 6 TAP 2 KNTT
Ngày gửi: 2024-05-15 09:56:14
SGV TIENG ANH 6 KNTT
Ngày gửi: 2024-05-15 09:56:04
SGV TIN HOC 6 KNTT
Ngày gửi: 2024-05-15 09:55:06
SGV Tin hoc 7 KNTT
Ngày gửi: 2024-05-15 09:54:52
sach-bai-tap-hoat-dong-trai-n...
Ngày gửi: 2024-05-15 09:54:40
KHTN 6
Ngày gửi: 2024-04-14 23:40:04
HĐTN 7
Ngày gửi: 2024-04-14 23:38:27
HĐTN 6
Ngày gửi: 2024-04-14 23:31:37
GDTC 7
Ngày gửi: 2024-04-14 23:27:16
GDCD 7
Ngày gửi: 2024-04-14 23:24:57
GDCD 6
Ngày gửi: 2024-04-14 23:23:55
cn 7
Ngày gửi: 2024-04-14 23:21:49
cn 6 cd
Ngày gửi: 2024-04-14 23:14:57
toán 3 t1
Ngày gửi: 2024-04-14 23:08:32
CÔNG NGHỆ 3
Ngày gửi: 2024-04-14 21:03:01
mt 3
Ngày gửi: 2024-04-14 19:52:32
GDTC 3
Ngày gửi: 2024-04-14 17:50:43
ĐẠO ĐỨC 3
Ngày gửi: 2024-04-14 17:49:05
ÂM NHẠC 3
Ngày gửi: 2024-04-14 17:41:39






Các ý kiến mới nhất