Các ý kiến mới nhất

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Ban_Do_34_tinh_thanh_Viet_Nam.jpg Z7190916526505_4bec39d1a5028d845d01a9d743bc7e3d.jpg Anh_PL.jpg Z6536273260343_2f63e4b9cefecf4a5dadaa6c79809e96.jpg Z6543188819178_17accf8e0c11190a8191330cd3cec962.jpg Z6543188850186_97e66a14d3a485164f362291aaae36ec.jpg Z6543188819179_dd64e7d044f763686db9a4a55062080b.jpg Z6536262538710_16c12aebeb6255c66e3ebf8de4b42887.jpg Z6536262331673_8a4bb46fe0af37acbf226014b760aef2.jpg Z6093473774048_7cb93639585bb6d2044ebd5d694f87ef.jpg Z6025148222431_f19ad6f2e7613a30977fd22f9660f018.jpg Z5910662613795_dec804158eb571b9d4399aae2dd2c973.jpg Z5910662621603_f60980e1f976b9b06f9b0cdd07ee525f.jpg Z5910664954735_cf90437e35fe24b4bc6128ab88f66d8c.jpg Z5910662602964_95b5b7b40d08751b61ed0f7abe3f58b8.jpg Z5910662610386_dcb29518c8cc5e807f9828d12e2ec7cc.jpg Z5910662604846_ba5132721c6f89ca443d0d59dc37d5a3.jpg Z5910662634615_56ab5f955ba415707575f9dc7e940326.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Nghiên Cứu Ngôn Ngữ Học – Tập I Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Thanh Xuân
    Ngày gửi: 16h:06' 01-10-2024
    Dung lượng: 768.2 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Table of Contents
    VỀ VẤN ĐỀ GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT
    MẪU MỰC VÀ PHÁT TRIỂN
    VỀ QUAN HỆ GIỮA MẪU MỰC NGÔN NGỮ VÀ SỰ SÁNG TẠO CỦA CÁ NHÂN
    VẤN ĐỀ NÓI TẮT TRONG TIẾNG VIỆT
    VÀI SUY NGHĨ VỀ VIỆC DÙNG TỪ ĐÚNG NGHĨA
    NHÌN QUA VIỆC DÙNG TỪ ĐỊA PHƯƠNG MIỀN NAM[93] TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC
    GẦN ĐÂY
    VỀ VẤN ĐỀ LẠM DỤNG TỪ HÁN-VIỆT
    BÀN VỀ CÁCH DÙNG TỪ NGỮ “THUẦN VIỆT” THAY THẾ CHO TỪ NGỮ HÁN-VIỆT[110]

    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
    Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach

    TỔ NGÔN NGỮ HỌC
    ỦY BAN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT-NAM

    NGHIÊN CỨU
    NGÔN NGỮ HỌC
    TẬP I

    VẤN ĐỀ GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG
    CỦA TIẾNG VIỆT

    NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI
    HÀ NỘI - 1968

    Nghiên cứu ngôn ngữ học gồm những bài nghiên cứu về những vấn đề ngôn ngữ của ta, chủ yếu là về tiếng Việt. Những bài
    này sẽ in thành nhiều tập. Tập 1 gồm những bài nghiên cứu về vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là một vấn đề có
    tầm quan trọng lớn trong lĩnh vực ngôn ngữ của ta hiện nay.

    HOÀNG PHÊ

    VỀ VẤN ĐỀ GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG CỦA
    TIẾNG VIỆT
    “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quí báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ
    gìn nó, quí trọng nó…”
    Hồ Chủ tịch

    Trước Cách mạng tháng Tám, trong lĩnh vực văn hóa, Đảng ta nêu nhiệm vụ “tranh đấu về
    tiếng nói” thành một “nhiệm vụ cần kíp”, chủ trương “thống nhất và làm giàu thêm tiếng nói”
    của dân tộc[1].
    Sau Cách mạng tháng Tám, chính giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang ở
    trong giai đoạn gay go nhất, đồng chí Trường Chinh kêu gọi “gây một phong trào Việt hóa lời
    nói và văn chương”, “kiên quyết bảo vệ tiếng mẹ đẻ”[2]. Và gần đây, giữa lúc tiếng súng chống
    Mĩ cứu nước đang nổ rền khắp Nam, Bắc, Thủ tướng Phạm Văn Đồng lại nhắc mọi người phải
    “giữ gìn sự trong sáng của tiếng ta”, vì “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt tức là góp phần
    chống Mĩ cứu nước trên mặt trận văn hóa”[3].
    Như vậy, “bảo vệ tiếng mẹ đẻ”, “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” là một công tác không
    thể thiếu được trong toàn bộ công tác cách mạng của chúng ta. Dù những khi phải tập trung
    sức lực chống ngoại xâm, như trong kháng chiến chống thực dân Pháp trước đây và trong chống
    Mĩ cứu nước hiện nay, cũng không một lúc nào chúng ta chểnh mảng việc đó.
    Theo đường lối nói trên của Đảng, những người nghiên cứu ngôn ngữ ở nước ta cũng nhận
    thức rằng: “Bảo vệ tính chất trong sáng của tiếng Việt, làm cho nó mỗi ngày một giàu đẹp, chính
    xác thêm, đó là nhiệm vụ của tất cả mọi người dân Việt-nam, đặc biệt là các nhà ngôn ngữ học,
    nhà văn, nhà báo”[4] và trong mấy năm nay rải rác đã có không ít bài nghiên cứu đề cập đến
    những khía cạnh khác nhau của việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt[5].
    Từ đầu năm 1966, sau bài phát biểu về “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” của Thủ tướng
    Phạm Văn Đồng, vấn đề càng được chú ý hơn, và không chỉ trong giới ngôn ngữ học. Nhiều
    người, trong đó có những nhà văn, nhà báo đã nói những suy nghĩ và những băn khoăn của
    mình về vấn đề này[6].
    Cách mạng tháng Tám mở ra một giai đoạn phát triển mới của tiếng Việt: giai đoạn nó được
    nâng lên địa vị ngôn ngữ nhà nước của một dân tộc độc lập, tự do, đang xây dựng chủ nghĩa xã
    hội. Lần đầu tiên trong lịch sử, phạm vi sử dụng của tiếng Việt được mở rộng một cách không
    hạn chế. Ngày nay, đông đảo nhân dân ta dùng tiếng Việt hàng ngày trong những lĩnh vực hoạt
    động, chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học, kĩ thuật, nghệ thuật, nhiều khi
    hoàn toàn mới mẻ đối với mình. Do đó mà cũng không khỏi nảy sinh hiện tượng khá phổ biến
    là nói, viết không được tốt, ảnh hưởng đến sự trong sáng, sự phát triển lành mạnh của ngôn
    ngữ. Mọi người đều thấy cần chống những hiện tượng ấy.
    Nhưng đi cụ thể, đi sâu hơn nữa thì nảy ra những vấn đề. Trước hết, có vấn đề đánh giá các
    hiện tượng ngôn ngữ. “Trong việc dùng từ và đặt câu… điều then chốt là phải phân rõ cái đúng
    với cái sai, cái làm giàu đẹp thêm tiếng Việt với cái “làm hư” tiếng Việt… Nhưng ai cũng thấy
    việc ấy không phải dễ”[7]. Thật vậy, trong ngôn ngữ, thế nào là đúng, sai, tốt, không tốt? Có
    nhiều trường hợp rõ ràng, nhưng cũng có những trường hợp không rõ ràng. Thế nào là sự trong
    sáng của tiếng Việt là một câu hỏi không dễ trả lời, và đúng là “có nhiều quan niệm trong sáng
    khác nhau, do đó có nhiều cách đánh giá khác nhau”[8]. Vậy nên quan niệm như thế nào để
    không ngăn cản “mỗi người viết văn… có lấy cái phong cách, cái vẻ riêng của mình”[9]? Lại còn có

    khía cạnh khoa học của vấn đề: làm thế nào để khi giải quyết vấn đề ngôn ngữ tránh được sai
    lầm của chủ nghĩa chủ quan, tránh được “cái tình trạng chỉ dựa vào cảm tính”[10], mà không
    dựa vào sự nghiên cứu khoa học?
    Như vậy, có nhiều vấn đề, mà chung qui là: nên hiểu thế nào là “giữ gìn sự trong sáng của
    tiếng Việt”? Thế nào là “trong sáng”, thế nào là “giữ gìn”? Rõ ràng là cần phải nghiên cứu cơ sở
    lí luận, nội dung, phương hướng của việc giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ chúng ta.
    Vấn đề rất lớn và phức tạp. Dưới đây chỉ xin trình bày một số suy nghĩ bước đầu và chưa
    phải toàn diện.
    *
    **
    Đề ra việc giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ tức là thừa nhận rằng trong ngôn ngữ có cái
    “đúng” và có cái “sai”, cái “tốt” và cái “không tốt”, và thừa nhận con người có thể tác động một
    cách tự giác và tích cực đến sự phát triển của ngôn ngữ. Thừa nhận như vậy có cơ sở hay
    không? Câu hỏi này nhiều người có thể cho là thừa. Nhưng đây chính là một vấn đề quan điểm
    cơ bản, và trong ngôn ngữ học hiện đại, không phải là không có những ý kiến khác nhau rất
    nhiều.
    Cho nên cũng cần khẳng định rõ ràng quan điểm của chúng ta. Đó đây, có những nhà ngôn
    ngữ học cho rằng một “nguyên tắc cơ bản” là “trong ngôn ngữ không có cái gọi là tốt và xấu
    (hay là đúng và sai, hợp ngữ pháp và không hợp ngữ pháp)”, và nếu nghĩ rằng trong ngôn ngữ
    có cái đúng, cái sai, thì đó là một quan niệm “không những không đúng đắn, sai lầm và vô ích,
    mà còn là hết sức có hại”[11]. Quan niệm này chỉ là “sản phẩm phụ của những địa vị xã hội nào
    đó”. Cho nên nhà ngôn ngữ học “quan sát tất cả các hình thức ngôn ngữ một cách vô tư”[12] và
    “sẽ không đứng về phía nào cả”, bởi vì ngôn ngữ học là khoa học, mà nói khoa học tức là “dựa
    trên sự quan sát hiện tượng và không đề nghị một sự lựa chọn nào hết”[13], cũng tức là hoàn
    toàn không can thiệp vào sự phát triển của sự vật. Quan điểm trên đây từ mấy chục năm nay là
    quan điểm phổ biến trong giới ngôn ngữ các nước tư bản. Nó đã nảy sinh trong hoàn cảnh có
    sự phản ứng chống lại việc dạy ngôn ngữ ở nhà trường theo lối kinh viện chủ nghĩa, tách rời
    ngôn ngữ sinh động của nhân dân, chống thái độ bảo thủ, hẹp hòi, “thuần túy chủ nghĩa” trước
    những hiện tượng mới trong ngôn ngữ, chống chủ nghĩa chủ quan trong việc đánh giá và nghiên
    cứu các hiện tượng ngôn ngữ. Nhưng nếu chống chủ nghĩa chủ quan mà lại rơi vào chủ nghĩa tự
    nhiên, thì vẫn là sai lầm. Không thể vì phản đối sự đánh giá chủ quan đối với các hiện tượng
    ngôn ngữ mà phủ nhận mọi sự đánh giá. Sự thật là trong hoạt động ngôn ngữ, mỗi người nói
    riêng và xã hội nói chung, dù tự giác hay không, đều có đánh giá các hiện tượng ngôn ngữ, phân
    biệt giữa đúng và sai, tốt và không tốt. Ngay cho rằng trong ngôn ngữ không có cái đúng và cái
    sai cũng đã là một sự đánh giá rồi, đánh giá rằng cái gì cũng “được”, cũng đúng, không có cái gì
    là “sai” cả. Vì có đánh giá các hiện tượng ngôn ngữ, nên mới có sự lựa chọn cách diễn đạt và có
    sự sáng tạo trong lời nói, mới có thái độ khác nhau đối với những hiện tượng mới trong ngôn
    ngữ. Một hiện tượng ngôn ngữ cuối cùng được chấp thuận hay không, được giữ lại và củng cố,
    hay bị bỏ đi, hoặc bị thay thế là thông qua sự đánh giá của xã hội.
    Trong những vấn đề ngôn ngữ cũng vậy, nếu vin vào lẽ cần phải khách quan, mà đi đến thái
    độ khách quan chủ nghĩa thì là hoàn toàn sai lầm. Không thể coi “ngôn ngữ là một hệ thống chỉ
    biết có trật tự của bản thân nó”[14]. Không thể “để mặc ngôn ngữ”, như có người đã nêu thành
    một đường lối, đề tên như vậy cho một quyển sách của mình[15]. Có lúc người ta quên cái chân
    lí đơn giản sau đây: chính con người tạo ra và sử dụng, thì cũng chính con người phát triển và
    hoàn thiện ngôn ngữ. Xã hội và khoa học phát triển, thì tác dụng của con người đối với cái sản
    phẩm ấy của mình cũng từ không tự giác dần dần trở thành tự giác, và ngày càng tự giác hơn,
    tích cực hơn. Cho nên nghiên cứu về ngôn ngữ thì phải biết đánh giá các hiện tượng ngôn ngữ,
    tuyên truyền cho một sự đánh giá đúng đắn, hướng dẫn sự đánh giá của xã hội, đứng về phía
    những hiện tượng tích cực mà đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực. Như có người đã
    nói: “Những nhà ngôn ngữ học phải là những người thực tiễn; không những chỉ sưu tầm các từ

    ngữ, mà còn phải can thiệp vào quá trình phát triển của ngôn ngữ; phải giải thích quá trình ấy,
    đoán trước chiều hướng phát triển, đấu tranh dũng cảm cho cái mới. Nói chung, phải nắm lấy
    ngôn ngữ!”[16]. Đó thật ra là điều mà Mác và Enghen đã nói từ lâu: “Lẽ dĩ nhiên, đến lúc nào đó,
    con người sẽ hoàn toàn kiểm soát cả cái sản phẩm ấy” (chỉ ngôn ngữ)[17].
    Như vậy, vấn đề không phải là nên hay không nên đánh giá, mà là nên đánh giá như thế nào.
    Đây đúng là vấn đề mấu chốt, mà cũng là vấn đề khó khăn nhất. Trước cùng một hiện tượng
    ngôn ngữ, sự đánh giá có khi không nhất trí: có người cho là đúng, tốt, hoặc ít nhất là “được”;
    có người cho là sai, không tốt, “không được”. Có những cách nói tương đối phổ biến, nhưng lại
    bị một số người không phải ít phản đối. Đúng, sai như thế nào, lắm lúc làm chúng ta rất phân
    vân. Sự đánh giá không nhất trí, vì thường dựa trên những căn cứ khác nhau. Nó chịu ảnh
    hưởng của những yếu tố tâm lý, văn hóa, xã hội phức tạp, và không phải lúc nào cũng dựa trên
    những hiểu biết về ngôn ngữ. Có khi sự đánh giá chỉ dựa trên những “thị hiếu” ngôn ngữ cá
    nhân, hoàn toàn chủ quan, Chúng ta thường thích một cách nói này hơn một cách nói khác,
    nhưng hỏi lý do tại sao thì lắm khi rất khó trả lời. Ai cũng ít nhiều quan tâm đến ngôn ngữ,
    “nhưng kết quả kì cục… là trong lĩnh vực này, hơn ở đâu hết, nảy sinh những ý nghĩ vô lí, những
    định kiến, tưởng tượng, ảo tưởng… Nhiệm vụ của nhà ngôn ngữ học trước hết là vạch ra và làm
    tan những cái đó…”[18]. Đúng như vậy. Nhưng vạch ra và làm tan các thứ định kiến là nhằm để
    đi đến xây dựng một sự đánh giá khách quan hơn, dựa nhiều hơn trên những hiểu biết về ngôn
    ngữ, về qui luật, yêu cầu, điều kiện, chiều hướng phát triển của ngôn ngữ. Điều này có ý nghĩa
    đặc biệt quan trọng trong thời kì mà ngôn ngữ phát triển mạnh mẽ, không những cần đánh giá
    đúng đắn rất nhiều hiện tượng ngôn ngữ mới, mà lắm khi còn cần “đánh giá lại” nhiều hiện
    tượng ngôn ngữ cũ nữa.
    Nên căn cứ vào đâu để đánh giá những hiện tượng ngôn ngữ, và trước hết là để phân rõ
    đúng và sai?
    Có khi chúng ta đi tìm căn cứ của cái đúng ở trong lô-gích: hình như cái gì “hợp lí” là đúng.
    Nhưng thế nào gọi là “hợp lí” trong ngôn ngữ? Ngôn ngữ có cái “lí” riêng của nó, không đơn
    giản, khác cái lí thông thường. Trong tiếng Việt, nói mười một nhưng lại không thể nói “hai
    mười một”, “ba mười một”, mà lại phải nói hai mươi mốt, ba mươi mốt. Bất, vô đều có nghĩa
    phủ định: bất ngờ, bất công, vô lễ, vô cớ, v.v.., nhưng bất thình lình lại nghĩa như thình lình, còn
    vô khối lại nghĩa như khối (còn vô khối = còn khối). Cùng là chạy nhưng trong chạy giặt, chạy nạn
    thì lại có nghĩa là chạy để tránh, mà trong chạy gạo, chạy thầy thì lại có nghĩa là chạy để tìm! Chỉ
    dựa trên cái lí thông thường, làm sao xác định được cái đúng, cái sai ở đây?
    Có khi chúng ta đi tìm căn cứ của cái đúng ở trong dĩ vãng, trong sách. Trước kia, ngày xưa,
    nói như vậy, hiểu như vậy, thì bây giờ cũng phải nói vậy, hiểu như vậy mới là đúng, khác đi là
    sai. Hình như nghĩa theo gốc, theo từ nguyên mới là nghĩa “đúng” nhất của một từ. Nhưng
    ngôn ngữ đâu có đứng nguyên một chỗ, nó phát triển không ngừng. Tiếng Việt ngày nay không
    thể giống tiếng Việt thời Nguyễn Du, càng không thể giống tiếng Việt thời Nguyễn Trãi. Nếu hiểu
    theo thời Nguyễn Trãi thì ngặt, phải có nghĩa là “nghèo”:
    Quân tử hay lăm bền chí cũ,
    Chẳng âu ngặt chẳng âu già[19]
    Còn nghèo thì lại có nghĩa là “nguy, khốn, ngặt”:
    Khi bão mới hay là cỏ cứng,
    Thuở nghèo thì biết có tôi lành[20]
    Đểu và cáng ngày xưa chỉ những hạng người lao động. Theo quan điểm của chúng ta ngày
    nay thì chẳng có gì đáng khinh. Nhưng từ lâu rồi “đểu cáng” đâu còn có nữa cái nghĩa phu gánh
    thuê và phu cáng, như Việt-nam tự điển của Hội Khai trí tiến đức đã giải thích? Trong ngôn ngữ,
    cái quá khứ chỉ có thể giúp chúng ta hiểu rõ thêm cái hiện tại, chứ không xác định được cái hiện
    tại. Enghen đã từng nói rằng phải hiểu một từ “theo cái nghĩa mà nó đã có trong quá trình phát
    triển lịch sử của việc sử dụng nó trong thực tế“, chứ không thể hiểu “theo cái nghĩa mà đáng lẽ

    nó phải có theo nguồn gốc từ nguyên của nó”[21].
    Có khi chúng ta đi tìm căn cứ của cái đúng trong một ngôn ngữ nước ngoài. Có người dựa
    theo ngữ pháp của một tiếng nước ngoài để phân tích, đánh giá một câu của tiếng Việt: đó là
    một sai lầm ấu trĩ. Nhưng nếu với những từ mượn, mà dựa theo “từ nguồn gốc” trong tiếng
    nước ngoài để xác định âm và nghĩa của nó thì sao? Có người cho rằng “có nhiều chữ Hán, tục
    đọc sai lầm như huyễn đọc ảo…, thống kế đọc thống kê, ủy mĩ đọc ủy mị…nay… [cần phải] cố
    gắng sửa lại”[22]. Và người ta cho rằng nói thống kê, thông qua, ảo tưởng, trú ngụ là “sai”, phải
    thống kế, thông quá, huyễn tưởng, trụ ngụ mới “đúng”! Sự máy móc dựa vào tiếng Hán đã làm
    đảo ngược đúng, sai thực tế trong tiếng Việt. Sự thật là khi chúng ta mượn một từ của tiếng
    nước ngoài, thì với một ý nghĩa nào đó, chúng ta đã “tạo” ra một từ mới của ta: từ của Tiếng
    Việt này sẽ có một “đời sống” riêng của nó, có thể có những biến đổi về âm, nghĩa, cách dùng,
    như những từ khác của tiếng Việt, theo yêu cầu của tiếng Việt, và có khi theo những con đường
    phức tạp và đầy mâu thuẫn, kết quả làm cho mối liên hệ giữa nó với “từ nguồn gốc” trong tiếng
    nước ngoài chỉ có thể ngày càng bớt chặt chẽ đi (bản thân “từ nguồn gốc” này trong tiếng nước
    ngoài cũng có thể có những biến đổi, theo một con đường phát triển khác hẳn). Hủ hóa là một
    từ mới mượn gần đây của tiếng Hán. Bên cạnh cái nghĩa” hư hỏng, biến chất, sa đọa” dựa trên
    nghĩa trong tiếng Hán (“thối nát”), nó nhanh chóng có thêm một nghĩa mới: “có quan hệ nam
    nữ bậy bạ, bất chính”. Nghĩa mới này là nghĩa thường dùng hiện nay; nó có liên hệ với nghĩa cũ,
    nhưng là một nghĩa không hề có trong tiếng Hán. Dùng hủ hóa trong tiếng Việt với nghĩa như
    vậy, phải chăng là sai? Tìm hiểu nguồn gốc của một từ mượn có thể giúp ta hiểu sâu thêm về
    âm hoặc nghĩa của từ, nhưng nếu muốn dựa vào đó để “uốn nắn” lại âm, nghĩa, cách dùng hiện
    tại của từ thì là một việc làm nhiều khi vô ích và trái lịch sử.
    Chúng ta trở lại vấn đề: vậy nên căn cứ vào đâu để đánh giá các hiện tượng ngôn ngữ, để
    phân rõ đúng và sai, trong sáng và không trong sáng?
    Trong đời sống hàng ngày, khi vợ chồng, mẹ con, bạn bè thân thiết nói chuyện với nhau,
    chắc ít ai nghĩ đến cái “đúng”, cái “sai” trong ngôn ngữ. Nhưng khi một nhà văn sáng tác truyện,
    một nhà khoa học viết sách, một thầy giáo giảng bài, một cán bộ chính trị nói trước quần chúng
    đông đảo, thì vấn đề đúng hoặc sai, trong sáng hoặc không trong sáng của ngôn ngữ phải được
    đặt ra. Tại sao vậy? Tại vì trong những trường hợp này, chức năng của ngôn ngữ đã được nâng
    cao, ngôn ngữ được dùng làm một công cụ văn hóa. Ngôn ngữ được sử dụng ở đây không phải
    chỉ để diễn đạt những cái chỉ có ý nghĩa nhất thời, nói rồi có thể quên đi giữa đôi ba người, mà
    là để diễn đạt đời sống văn hóa tinh thần, những tư tưởng, tình cảm quý giá, những gì quan
    trọng, có thể cần nói cho nhiều người, những người đó có thể ở gần mà cũng có thể ở xa, có
    thể là quen biết mà cũng có thể là không hề quen biết, có thể thuộc thế hệ đương thời mà cũng
    có thể thuộc thế hệ mai sau. Chức năng công cụ văn hóa đòi hỏi ngôn ngữ phải có tính thống
    nhất, tính toàn dân, khắc phục những sự sai khác bất tiện giữa các địa phương, các lớp người,
    các nghề nghiệp, đồng thời phải có tính ổn định, khắc phục những biến đổi bất thường và
    không cần thiết. Nó cũng đòi hỏi ngôn ngữ phải được nâng cao, đủ phong phú và tinh xác để có
    thể diễn đạt mọi tư tưởng tinh tế, diễn đạt mọi tình cảm tế nhị. Khi ngôn ngữ đã được nâng lên
    thành ngôn ngữ toàn dân thống nhất, ổn định, tinh xác, phong phú, làm công cụ văn hoá của
    dân tộc thì đó là ngôn ngữ văn học (ngôn ngữ tiêu chuẩn) dân tộc, như vẫn thường gọi, hay
    đúng hơn là ngôn ngữ văn hóa[23]; ngôn ngữ văn hóa dân tộc có hệ thống chuẩn mực[24] của nó;
    chuẩn mực trong ngôn ngữ là cái được mọi người hoặc ít nhất một số người khá đông thừa
    nhận, số khá đông ấy không nhất thiết phải là đa số, nhưng phải gồm số lớn những người có uy
    tín và ảnh hưởng về mặt văn hóa, được coi là mẫu mực về mặt ngôn ngữ. Như vậy, cái chuẩn
    mực là cái nếu tạm thời chưa được đại đa số thừa nhận, thì phải càng ngày càng được nhiều
    người thừa nhận hơn, có triển vọng sẽ được mọi người hoặc đại đa số thừa nhận. Cho nên xác
    định chuẩn mực của ngôn ngữ, thì phải nhìn cái hướng phát triển[25]. Chuẩn mực có thể chỉ
    phương tiện ngôn ngữ (âm, từ…), mà cũng có thể chỉ quy tắc. Nghĩa là chúng ta nói có, những
    âm, những từ chuẩn mực, cũng như nói có những phát âm, cách dùng từ chuẩn mực. Như vậy,
    chuẩn mực xác định cách phát âm, cách dùng từ, cách kết hợp từ, đặt câu; có chuẩn mực ngữ
    âm, chuẩn mực từ vựng, chuẩn mực ngữ pháp, chuẩn mực tu từ. Chuẩn mực là căn cứ của cái

    đúng. Nó bảo đảm tính thống nhất và tính ổn định của ngôn ngữ văn hóa.
    Ngôn ngữ văn hóa hình thành và phát triển do đòi hỏi của sự hình thành và phát triển của
    nền văn hóa dân tộc, và do hoạt động ngôn ngữ có ý thức của con người. Ngôn ngữ văn hóa
    biểu hiện sự tự giác của con người trong việc sử dụng ngôn ngữ, ý thức trau dồi lời ăn tiếng nói,
    hướng tới cái mà con người cho là hay, đẹp, trong sáng trong ngôn ngữ, ý thức nắm ngôn từ và
    can thiệp vào sự phát triển của nó. Khái niệm sự trong sáng gắn liền với khái niệm ngôn ngữ
    văn hóa. Nói sự trong sáng của tiếng Việt, tức là nói sự trong sáng của tiếng Việt văn hóa. Việc
    giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt gắn liền với sự xây dựng và phát triển tiếng Việt văn hóa, và
    là một mặt - quan trọng, chủ yếu - của việc xây dựng và phát triển tiếng Việt văn hóa. Có xác
    định những chuẩn mực của tiếng Việt văn hóa thì mới có cơ sở không những để phân rõ đúng
    và sai, mà còn để phân rõ trong sáng và không trong sáng trong tiếng Việt. Và ngược lại, muốn
    xác định tốt những chuẩn mực của tiếng Việt văn hóa thì phải chú ý đầy đủ yêu cầu giữ gìn sự
    trong sáng của tiếng Việt, làm sao cho những chuẩn mực của tiếng Việt văn hóa không những
    bảo đảm tính thống nhất và tính ổn định, mà còn bảo đám tính trong sáng của nó.
    Như vậy, chuẩn mực là khái niệm trung tâm trong vấn đề giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ.
    Chuẩn mực ngôn ngữ là một khái niệm phức tạp, đầy mâu thuẫn. Sực xác định và tồn tại của
    chuẩn mực phụ thuộc không những vào yếu tố “bên trong” ngôn ngữ, đặc điểm kết cấu, truyền
    thống lịch sử, quy luật phát triển nội bộ của mỗi ngôn ngữ, mà còn phụ thuộc khá nhiều vào
    những yếu tố bên ngoài ngôn ngữ: vào đặc điểm phát triển của xã hội, điều kiện tồn tại của mỗi
    ngôn ngữ văn hóa, thành phần của những người nắm ngôn ngữ văn hóa. v.v… những yếu tố này
    có ảnh hưởng lớn đến sự đánh giá của xã hội đối với các hiện tượng ngôn ngữ. Cần nghiên cứu
    chuẩn mực của ngôn ngữ một cách toàn điện. Nhưng đến nay, trong lí luận ngôn ngữ học, vấn
    đề này chưa được nghiên cứu mấy.
    Chuẩn mực là cái gì ít nhiều có tính chất bắt buộc. Yêu cầu đối với mọi người sử dụng ngôn
    ngữ văn hóa là phải theo các chuẩn mực, không được vô cớ đi chệch. Nhưng “mức độ bắt buộc
    và phạm vi tác động của các chuẩn mực”[26] không như nhau. Có những chuẩn mực xác định
    những đặc trưng cơ bản của một ngôn ngữ, những chuẩn mực này vững chắc nhất, lâu bền
    nhất, được mọi người thừa nhận, phạm vi tác động rất rộng, mức độ bắt buộc rất cao: có thể
    gọi đó là những chuẩn mực đặc trưng của ngôn ngữ. Bên cạnh, hay nói đúng hơn là trên cơ sở
    những chuẩn mực đặc trưng, có những chuẩn mực xác định những đặc điểm của bản thân ngôn
    ngữ văn hóa, xác định cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ của ngôn ngữ văn hóa. Có thể
    gọi đó là những chuẩn mực văn hóa. Chuẩn mực văn hóa được những người hoạt động văn hóa,
    và trước tiên là các nhà văn hóa lớn, xây dựng một cách có ý thức. Nói, viết tiếng Việt mà sai
    chệch những chuẩn mực đặc trưng của tiếng Việt thì lời nói câu văn không phải Việt-nam nữa.
    Còn nếu sai chệch những chuẩn mực văn hóa, thì lời nói câu văn dù có vẻ rất Việt-nam, vẫn bị
    đánh giá là “không tốt”, “không văn hóa”. Quan niệm như vậy thì biết nói và biết nói “tốt” là
    hai việc khác nhau. Ai cũng học để biết nói, một cách tự nhiên, từ ngày còn ở trong nôi, nhưng
    muốn biết nói “tốt”, biết sử dụng ngôn ngữ văn hóa, thì phải khó khăn hơn, phải qua học tập,
    thường bắt đầu là ở nhà trường, phải có công phu trau dồi lời nói, phải nắm được các chuẩn
    mực của ngôn ngữ văn hóa, có ý thức tự giác trong việc vận dụng các chuẩn mực. Trong hệ
    thống chuẩn mực, như ở trên đã nói, chuẩn mực đặc trưng là cơ sở, sai lệch chuẩn mực đặc
    trưng thì chuẩn mực văn hóa cũng mất chỗ dựa. Lời nói câu văn mà đã không Việt-nam thì đâu
    có cơ sở để thành lời nói câu văn “tốt”. Cho nên điều quan trọng trước tiên là phải tôn trọng
    các chuẩn mực đặc trưng của tiếng Việt. Đó là yêu cầu sơ đẳng. Rải rác trong một số sách nghiên
    cứu về ngữ pháp tiếng Việt của một số học giả người nước ngoài, có thể nhặt những câu thí dụ
    ngô nghê, không Việt-nam, đại loại như:
    - Chúng ta đi xem lễ. Họ họ đều vui, ta ta cũng thích.
    - Công việc đó tôi đã đã nói rồi.[27]
    Người nước ngoài khó nắm được sâu sắc, toàn diện những chuẩn mực đặc trưng của tiếng
    Việt. Một sai lầm dễ mắc là dựa theo một kiểu tạo từ, kết hợp từ hoặc đặt câu nào đó của tiếng

    Việt, rồi suy rộng ra một cách máy móc: dựa theo những kiểu “người người đều vui”, “ai ai cũng
    thích, “tôi thường thường đi chợ”, mà tưởng rằng có thể nói “họ họ đều vui”, “ta ta cũng thích”,
    “tôi đã đã nói rồi”. Nhưng dù sao, sai lầm này ở người nước ngoài cũng không đáng chê trách
    lắm. Đáng chê trách hơn là người Việt-nam chúng ta lại đi viết những câu văn không được Việtnam kia! Thí dụ:
    - Đang lúc ấy, phóng ngựa đến, tên quản lí Phi lip… (Sách).
    - Đây là Hoàng, em ruột của Toàn, người mà đã biết… (Sách).
    - Nguyên nhân chính đưa đến thắng lợi là được sự soi sáng bởi nghị quyết của Trung ương.
    (Báo).
    Thật ra, đã là người Việt-nam, nói tiếng Việt hàng ngày từ nhỏ, thì ai mà không nắm được
    những chuẩn mực đặc trưng của tiếng Việt? Khó mà nghe có những lời nói “không Việt-nam” ở
    miệng những người dân Việt-nam bình thường. Những câu không Việt-nam thường chỉ gặp
    dưới ngòi bút của một số người có văn hóa, ít nhiều có làm quen với một ngôn ngữ nước ngoài.
    Tiếng Việt văn hóa là tiếng Việt đã được nâng cao: nói nâng cao nghĩa là dựa trên những đặc
    trưng cơ bản của tiếng Việt, giữ gìn phát huy những cái tốt vốn có, khắc phục những cái không
    tốt. Nhưng có khi chúng ta hiểu sự nâng cao thành một sự “gia công” giả tạo, thậm chí đôi khi,
    ít hay nhiều, có ý thức hay vô ý thức, chúng ta dựa vào những chuẩn mực của một ngôn ngữ
    văn hóa nước ngoài nào đó mà chúng ta quen thuộc, thoát li những chuẩn mực đặc trưng riêng
    của tiếng Việt (nếu có thể nói như vậy). Ngôn ngữ văn hóa mà không dựa vững chắc trên cơ sở
    ngôn ngữ thường ngày của nhân dân thì có nguy cơ thành giả tạo và què quặt, có thể đầy rẫy
    những từ ngữ và lối nói không tự nhiên, “bác học”, khó hiểu. Một ngôn ngữ văn hóa như vật
    thật ra chỉ là công cụ văn hóa trong tay một nhóm trí thức thượng lưu; đối với quần chúng lao
    động bình thường, nó khó hiểu, khó nắm, khó sử dụng. Là công cụ văn hóa, nhưng nó lại làm
    cho văn hóa trở thành “xa lạ” với người dân bình thường. Thời phong kiến, ở nước ta, giai cấp
    thống trị không dùng tiếng Việt, tiếng nói của dân tộc, của nhân dân, mà dùng tiếng Hán làm
    công cụ văn hóa, độc quyền trong tay chúng, trong suốt hàng bao thế kỉ. Thảng, hoặc có dùng
    đến tiếng Việt, thì đó lại là một thứ tiếng Việt lai Hán. Để xướng danh những người thi đỗ, đáng
    lẽ nói rất đơn giản: “Đỗ đầu cử nhân là Đào Vân Hạc, hai mươi ba tuổi, quê làng Đào-nguyên,
    tỉnh Sơn-tây”, thì ngày xưa người ta nói:
    Cử nhân đệ nhất danh Đào Vân Hạc! Niên canh nhị thập tam tuế, quán tại Sơn-tây tỉnh, Đàonguyên xá![28]
    Muốn cho quần chúng nhân dân làm chủ văn hóa, nhanh chóng nâng cao trình độ văn hóa
    của mình, thì không những phải dùng ngôn ngữ dân tộc làm công cụ văn hóa, mà còn phải dân
    chủ hóa ngôn ngữ văn hóa, làm cho nó gần ngôn ngữ thường ngày của nhân dân. Vì vậy, yêu
    cầu chống “bệnh dùng chữ” - như Hồ Chủ tịch thường nhắc _, “dân tộc hóa lời nói và câu
    văn”[29], “giữ gìn bản sắc tinh hoa, phong cách của tiếng ta”[30], là xuất phát từ lòng yêu dân
    tộc, yêu nhân dân, yêu tiếng mẹ đẻ, và từ yêu cầu của cách mạng tư tưởng và văn hóa ở nước
    ta hiện nay. Chúng ta quan niệm một tiếng Việt rất “Việt-nam”, dễ nghe, dễ hiểu đối với người
    dân Việt-nam bình thường và dễ làm rung động trái tim của họ. Cho nên vấn đề nghiên cứu,
    nắm vững, tôn trọng, giữ gìn, phát huy những đặc trưng của tiếng Việt là vấn đề phải được đề
    ra hàng đầu.
    Nhưng mặt khác, một ngôn ngữ văn hóa, dầu gần ngôn ngữ thường ngày bao nhiêu, cũng
    vẫn khác ngôn ngữ thường ngày: nó là ngôn ngữ đã được nâng cao, nghĩa là đã khắc phục
    những cái gì có tính chất thuần túy địa phương và những cái gì có tính chất ngẫu nhiên, nhất
    thời, tùy tiện, cẩu thả trong ngôn ngữ thường ngày. Trong ngôn ngữ thường ngày, có người nói:
    - Bên cạnh anh ta là một đống hái và liềm để rất vô tổ chức.
    - Giờ có nhiều anh em thợ đi học…, họ học giờ nhanh lắm[31].
    Những cách nói như vậy tuy cũng Việt-nam đấy, nhưng không hoàn toàn hợp với chuẩn mực
    của tiếng Việt văn hóa hiện đại[32]. Trong tiếng Việt văn hóa hiện đại, cách nói thông thường là:

    - Bên cạnh anh ta là một đống hái và liềm, để rất lộn xộn.
    - Bây giờ có nhiều anh em thợ đi học…
    Chúng ta quan niệm một tiếng Việt trong sáng phải là một tiếng Việt không những rất “Việtnam”, mà còn rất “văn hóa”. Nói, viết một cách giả tạo là không tốt; nhưng nói, viết một cách
    dễ dãi, tùy tiện cũng là không nên. Cần giản dị, tự nhiên, nhưng tự nhiên không phải có nghĩa là
    tự nhiên chủ nghĩa. Trong nhiều cách nói, hằng ngày nghe trong quần chúng, chúng ta phải biết
    chọn những cách nói tốt nhất, giản dị, rõ ràng, trong sáng, đẹp, và đôi khi còn phải biết trau dồi
    chút ít cho nó tốt hơn nữa, có như vậy mới nâng cao được ngôn ngữ của chúng ta. Nếu chỉ toàn
    “nói sao viết vậy” thì chưa hẳn đã tốt. Cần tôn trọng những chuẩn mực đặc trưng, nhưng trên
    cơ sở đó, lại cần xây dựng những chuẩn mực văn hóa.
    Mặt khác, ngay khi sử dụng ngôn ngữ thường ngày, cũng nên chú ý tránh tùy tiện, cẩu thả.
    Tuy rằng giữa ngôn ngữ thường ngày và ngôn ngữ văn hóa bao giờ cũng có một khoảng cách
    nhất định, nhưng khoảng cách ấy không phải là một bức tường. Cái tùy tiện, cẩu thả trong ngôn
    ngữ thường ngày có thể ảnh hưởng đến ngôn ngữ văn hóa. Cho nên cũng cần trau dồi cả ngôn
    ngữ thường ngày, nâng nó lên gần ngôn ngữ văn hóa.
    Chuẩn mực là cái gì có tính chất bắt buộc, thì đồng thời cũng có tính chất ổn định. Đã là
    chuẩn mực, thì tức là được nhiều người - nếu không phải là mọi người - thừa nhận, trong một
    thời gian không phải ngắn. Ngôn ngữ được nâng lên thành ngôn ngữ văn hóa, làm công cụ giao
    tiếp giữa toàn dân tộc qua các địa phương và các thế hệ, thì càng đòi hỏi chuẩn mực phải có
    tính ổn định cao. Nhưng mặt khác, ngôn ngữ văn hóa cũng lại phát triển không ngừng, do yêu
    cầu phát triển của xã hội và tư duy; sự đánh giá của xã hội đối với các hiện tượng ngôn ngữ
    cũng thường có thay đổi, nhất là trong những thời kì xã hội có biến đổi lớn. Do đó, tính ổn định
    của chuẩn mực cũng chỉ là tương đối. “Trong lịch sử ngôn ngữ văn học [ngôn ngữ văn hóa] nói
    chung có hai xu thế phát triển mâu thuẫn với nhau: 1) chiều hướng muốn giữ và củng cố những
    chuẩn mực đang tác động, và 2) chiều hướng sửa đổi những chuẩn mực đã hình thành[33].
    Chuẩn mực là cái quen dùng[34], mà thói quen thì không dễ gì vứt bỏ. Ngôn ngữ dựa vào thói
    quen của hàng vạn, hàng triệu người. Trong lĩnh vực ngôn ngữ, tính bảo thủ là phổ biến, không
    ít người trong các lĩnh vực khác thì mạnh bạo đổi mới, nhưng trong lĩnh vực này thì lại nệ cũ,
    thích cổ. Chuẩn mực khi đã hoàn thành thì thường có sức sống mạnh mẽ, mà nó càng sống lâu
    bao nhiêu thì sức sống dai của nó càng tăng thêm bấy nhiêu, nó càng bám rễ sâu vào thói quen
    của các lớp người, các thế hệ. Những chuẩn mực đặc trưng vì thế là những chuẩn mực rất vững
    chắc. Nhưng chuẩn mực mới lại có sức mạnh của cuộc sống. Chuẩn mực mới hình thành, suy
    đến cùng là do đòi hỏi của cuộc sống phát triển không ngừng, và ở đây cũng vậy, cuối cùng cuộc
    sống thắng, cái cũ bị đẩy lùi, cái mới phong phú hơn được củng cố, nhưng nhiều khi phải trải
    qua một thời gian đấu tranh giằng co, trong thời gian ấy cũ, mới cùng tồn tại, và sự đánh giá
    của xã hội không nhất trí. Cái cũ ở đây thường không rút lui một cách đơn giản: nó thường cố
    bám lấy trận địa của nó, chỉ nhường từng miếng đất một, cố thủ trên những miếng đất cuối
    cùng, và cũng có những miếng đất trên đó mới và cũ giằng co kéo dài,“chưa ai thắng ai”: như
    vậy cái cũ là chuẩn mực trong một số trường hợp, cái mới là chuẩn mực trong một số trường
    hợp khác, và có những trường hợp cũ và mới đều là chuẩn mực. Mề đay, thông ngôn trước đây
    là những từ thông dụng, và đã có lúc chúng ta có nói đến những “mề đay cứu quốc”[35]. Ngày
    nay, huân chương, phiên dịch được dùng phổ biến; nhưng riêng khi nói về địch, ngụy thì mề đay,
    thông ngôn cũng vẫn còn được dùng. Trước kia lính là từ thông dụng, nhưng từ khi có thêm bộ
    đội, thì có sự phân biệt: bộ đội của ta, lính của địch, ngụy. Tuy vậy, trong những trường hợp nào
    đó, lính lại vẫn có thể được dùng để chỉ cả bộ đội của ta nữa, như khi nói “đời người lính”, “lính
    cụ Hồ” (có thể nói “bộ đội cụ Hồ”). Ngày xưa, để tỏ lòng tôn kính, chúng ta nói Nguyễn tiên sinh,
    Trần tướng công; sau Cách mạng tháng Tám, một dạo chúng ta còn nói Huỳnh bộ trưởng, Võ đại
    tướng. Ngày nay mà nói như vậy rõ ràng là cổ, kiểu cách. Nhưng trừ một trường hợp: chúng ta
    có thể nói Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà cũng có thể nói Hồ Chủ tịch, nhưng thường nói H...
     
    Gửi ý kiến

    SÁCH GIÁO VIÊN  (102 bài)
    Thumbnail

    Sách giáo viên hoạt động trải...

    Ngày gửi: 2024-10-01 14:22:01

    Thumbnail

    Sách giáo viên giáo dục thể c...

    Ngày gửi: 2024-10-01 14:21:16

    Thumbnail

    Sách giáo viên giáo dục công ...

    Ngày gửi: 2024-10-01 14:20:41

    Thumbnail

    Sách giáo viên công nghệ 7 KNTT

    Ngày gửi: 2024-10-01 14:20:11

    Thumbnail

    Sách giáo viên âm nhạc 7 KNTT

    Ngày gửi: 2024-10-01 14:19:41

    Thumbnail

    Sách giáo viên tin học 7 KNTT

    Ngày gửi: 2024-10-01 14:19:09

    Thumbnail

    Sách giáo viên toán 6 KNTT

    Ngày gửi: 2024-10-01 14:18:13

    Thumbnail

    Sách giáo viên tiếng anh 6 KNTT

    Ngày gửi: 2024-10-01 14:17:35

    Thumbnail

    Sách giáo viên ngữ văn 6 tập ...

    Ngày gửi: 2024-10-01 14:17:03

    Thumbnail

    Sách giáo viên ngữ văn 6 tập ...

    Ngày gửi: 2024-10-01 14:16:22

    Thumbnail

    Sách giáo viên mĩ thuật 6 KNTT

    Ngày gửi: 2024-10-01 14:15:19

    Thumbnail

    Sách giáo viên lịch sử và địa...

    Ngày gửi: 2024-10-01 14:14:27

    Thumbnail

    Sách giáo viên khoa học tự nh...

    Ngày gửi: 2024-10-01 14:13:28

    Thumbnail

    Sách giáo viên hoạt động trải...

    Ngày gửi: 2024-10-01 14:12:38

    Thumbnail

    Sách giáo viên giáo dục thể c...

    Ngày gửi: 2024-10-01 14:11:51

    Thumbnail

    Sách giáo viên giáo dục công ...

    Ngày gửi: 2024-10-01 14:11:17

    Thumbnail

    Sách giáo viên công nghệ 6 KNTT

    Ngày gửi: 2024-10-01 14:10:35

    Thumbnail

    Sách giáo viên âm nhạc 6 KNTT

    Ngày gửi: 2024-10-01 14:08:29

    Thumbnail

    Sách giáo viên tin học 6 KNTT

    Ngày gửi: 2024-10-01 14:07:46

    Thumbnail

    sach-giao-vien-sgv-giao-duc-t...

    Ngày gửi: 2024-05-15 21:57:00

    Thumbnail

    SGV Am Nhac 6 (1) CD

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:47:27

    Thumbnail

    SGV Ngu Van 6 Tap 2 (1) CD

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:47:16

    Thumbnail

    SGV Ngu van 7 Tap 2 (1) CD

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:46:52

    Thumbnail

    SGV TIENG ANH 6 (1) CD

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:46:34

    Thumbnail

    SGV Tin hoc 7 (1) CD

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:46:20

    Thumbnail

    SGV TOAN 6 (1) CD

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:45:40

    Thumbnail

    SGV TIN HOC 6 (1) CD

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:45:30

    Thumbnail

    SGV Toan 7 (1) CD

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:44:59

    Thumbnail

    SGV Toan 7 CD

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:44:38

    Thumbnail

    SÁCH GV HĐTN 4 KNTTCS

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:43:55

    Thumbnail

    SÁCH GV TOÁN 4 KNTTCS

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:43:45

    Thumbnail

    SGV AM NHAC 2 (1) CTST

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:43:33

    Thumbnail

    SGV DAO DUC 2 (1) CTST

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:43:21

    Thumbnail

    SGV GDTC 1

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:43:06

    Thumbnail

    SGV GDTC 2 (1) CTST

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:42:53

    Thumbnail

    SGV HDTN 2 CTST

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:42:35

    Thumbnail

    SGV MI THUAT 2 (1) CTST

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:42:19

    Thumbnail

    SGV TIENG VIET 1 TAP 1 CTST

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:41:59

    Thumbnail

    SGV TIENG VIET 2 TAP 1 (1) CTST

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:41:44

    Thumbnail

    SGV TIENG VIET 3 TAP 2

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:41:26

    Thumbnail

    SGV TIN HỌC 4 KNTTCS

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:41:14

    Thumbnail

    SGV TNXH 1 (1) CTST

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:41:00

    Thumbnail

    SGV TOAN 1 (1) CTST

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:40:42

    Thumbnail

    SGV TOAN 2 (1) CTST

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:40:24

    Thumbnail

    SGV Am nhac 2

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:39:40

    Thumbnail

    4 KNTTCS

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:39:26

    Thumbnail

    SGV CÔNG NGHỆ 4 KNTT

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:39:08

    Thumbnail

    SGV Dao duc 1

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:38:56

    Thumbnail

    SGV Dao duc 2

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:38:36

    Thumbnail

    SGV DAO DUC 3

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:38:24

    Thumbnail

    SGV ĐẠO ĐỨC 4 KNTTCS

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:38:10

    Thumbnail

    SGV GDTC 2

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:37:59

    Thumbnail

    SGV GDTC 3

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:37:40

    Thumbnail

    SGV HDTN 1

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:37:27

    Thumbnail

    SGV HDTN 3 (1)

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:37:16

    Thumbnail

    SGV Hoat dong trai nghiem 2

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:37:02

    Thumbnail

    SGV KHOA HỌC 4 KNTTCS (1)

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:36:49

    Thumbnail

    SGV Mi thuat 1

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:36:37

    Thumbnail

    SGV MÔN MĨ THUẬT 4 KNTTCS

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:36:24

    Thumbnail

    SGV TOAN 3 (1) CTST

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:36:11

    Thumbnail

    SGV Am nhac 1

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:35:53

    Thumbnail

    SGV Am nhac 2

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:35:23

    Thumbnail

    SGV ÂM NHẠC 4 KNTTCS

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:35:07

    Thumbnail

    SGV CONG NGHE 3

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:34:53

    Thumbnail

    SGV CÔNG NGHỆ 4 KNTT

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:34:36

    Thumbnail

    SGV Dao duc 1

    Ngày gửi: 2024-05-15 11:34:17

    Thumbnail

    SGV Ngu Van 6 Tap 2 (1) CD

    Ngày gửi: 2024-05-15 10:08:26

    Thumbnail

    SGV Toan 7 CTST

    Ngày gửi: 2024-05-15 10:08:08

    Thumbnail

    SGV Toan 6 CTST

    Ngày gửi: 2024-05-15 10:07:38

    Thumbnail

    SGV Ngu van 6 Tap 1 CTST

    Ngày gửi: 2024-05-15 10:00:19

    Thumbnail

    SGV Ngu van 7 tap 1 CTST

    Ngày gửi: 2024-05-15 10:00:07

    Thumbnail

    SGV AM NHAC 6KNTT

    Ngày gửi: 2024-05-15 09:59:22

    Thumbnail

    SGV Am nhac 7 KNTT

    Ngày gửi: 2024-05-15 09:59:10

    Thumbnail

    SGV CONG NGHE 6 KNTT

    Ngày gửi: 2024-05-15 09:58:58

    Thumbnail

    SGV Cong nghe 7 KNTT

    Ngày gửi: 2024-05-15 09:58:28

    Thumbnail

    SGV GDCD 6 KNTT

    Ngày gửi: 2024-05-15 09:57:44

    Thumbnail

    SGV GDCD 7 KNTT

    Ngày gửi: 2024-05-15 09:57:22

    Thumbnail

    SGV GDTC 6 KNTT

    Ngày gửi: 2024-05-15 09:57:01

    Thumbnail

    SGV GDTC 7 KNTT

    Ngày gửi: 2024-05-15 09:56:48

    Thumbnail

    SGV HDTNHN 6 KNTT

    Ngày gửi: 2024-05-15 09:56:38

    Thumbnail

    SGV NGU VAN 6 TAP 1 KNTT

    Ngày gửi: 2024-05-15 09:56:28

    Thumbnail

    SGV NGU VAN 6 TAP 2 KNTT

    Ngày gửi: 2024-05-15 09:56:14

    Thumbnail

    SGV TIENG ANH 6 KNTT

    Ngày gửi: 2024-05-15 09:56:04

    Thumbnail

    SGV TIN HOC 6 KNTT

    Ngày gửi: 2024-05-15 09:55:06

    Thumbnail

    SGV Tin hoc 7 KNTT

    Ngày gửi: 2024-05-15 09:54:52

    Thumbnail

    sach-bai-tap-hoat-dong-trai-n...

    Ngày gửi: 2024-05-15 09:54:40

    Thumbnail

    KHTN 6

    Ngày gửi: 2024-04-14 23:40:04

    Thumbnail

    HĐTN 7

    Ngày gửi: 2024-04-14 23:38:27

    Thumbnail

    HĐTN 6

    Ngày gửi: 2024-04-14 23:31:37

    Thumbnail

    GDTC 7

    Ngày gửi: 2024-04-14 23:27:16

    Thumbnail

    GDCD 7

    Ngày gửi: 2024-04-14 23:24:57

    Thumbnail

    GDCD 6

    Ngày gửi: 2024-04-14 23:23:55

    Thumbnail

    cn 7

    Ngày gửi: 2024-04-14 23:21:49

    Thumbnail

    cn 6 cd

    Ngày gửi: 2024-04-14 23:14:57

    Thumbnail

    toán 3 t1

    Ngày gửi: 2024-04-14 23:08:32

    Thumbnail

    CÔNG NGHỆ 3

    Ngày gửi: 2024-04-14 21:03:01

    Thumbnail

    mt 3

    Ngày gửi: 2024-04-14 19:52:32

    Thumbnail

    GDTC 3

    Ngày gửi: 2024-04-14 17:50:43

    Thumbnail

    ĐẠO ĐỨC 3

    Ngày gửi: 2024-04-14 17:49:05

    Thumbnail

    ÂM NHẠC 3

    Ngày gửi: 2024-04-14 17:41:39